- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Ông Trần Nguyên T - Vợ chồng ông Lê Văn H, bà Trần Thị V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần y u cầu háng cáo của ị đơn vợ chồng ông L Văn H, bà Trần Thị V, sửa ản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự Căn cứ Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2018/DS-PT Ngày: 07- 3 - 2018 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Vũ Thị Nguyệt
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Ông Bùi Hữu Nhân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đạt Nguy n - Thư T a án nhân dân t nh Lâm Đồng.
- i di n i n i m t nhân dân t nh Lâm ồng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát vi n.
Ngày 07 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở T a án nhân dân t nh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ l số 87/2017/TLPT-DS ngày 01 tháng 9 năm 2017, về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2017/DS-ST ngày 18/7/2017 của T a án nhân dân huyện X ị háng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2017/QĐ-PT ngày 08/9/2017; Quyết định hoãn phi n t a số 109/2017/QĐ-PT ngày 26/9/2017, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Nguy n T, sinh năm 1969 Địa ch : Thôn A, xã B, huyện X, t nh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Vợ chồng ông L Văn H, sinh năm 1959
Bà Trần Thị V, sinh năm 1967
Địa ch : Thôn A, xã B, huyện X, t nh Lâm Đồng. Ông H ủy quyền cho bà V theo văn ản ủy quyền ngày 29/9/2017. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Vũ Thành N và luật sư Lê Kim X - Văn ph ng luật sư Nhân Tín thuộc Đoàn Luật sư t nh Lâm Đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1970 Địa ch : Thôn A, xã B, huyện X, t nh Lâm Đồng.
2. Ủy an nhân dân huyện X, t nh Lâm Đồng.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trung K - Chức vụ: Chủ tịch
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung T1 - Chức vụ: Phó chủ tịch
- Người kháng cáo: Bị đơn vợ chồng ông L Văn H, bà Trần Thị V.
(Ông T, bà H1, bà V và luật sư N có mặt; ông H vắng mặt; đại diện UBND
huyện X, luật sư X có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm
Theo đơn khởi kiện ngày 03/10/2017, bản tự khai của nguyên đơn ông Trần Nguyên T thì:
Vào năm 2004 vợ chồng ông T, bà H1 và vợ chồng ông H, bà V có mua chung 01 lô đất mặt đường Quốc lộ 55 đi Bình Thuận có diện tích hoảng 1.449,5m2 với giá 115.000.000đ, ông H góp 45.000.000đ, ông Dũng góp 20.000.000đ. Hai n có lập giấy tờ tay. Sau đó do nhu cầu sử dụng đất để xây dựng trụ sở UBND xã B nên UBND huyện X đã thu hồi hoảng 1.175m2, phần c n lại giao cho gia đình ông T là 310m2. Sau đó năm 2005 vợ chồng ông T làm nhà tr n một phần diện tích được cấp chiều ngang là 5m, chiều dài chạy hết đất. Vợ chồng ông T có trừ ra 3,2m ngang mục đích để cấn trừ vào số tiền mà vợ chồng ông H, bà V góp vào mua chung đất. Sau đó đến năm 2006 vợ chồng ông H, bà V hởi iện vợ chồng ông T, bà H1 và được T a án nhân dân huyện X giải quyết hủy hợp đồng chuyển nhượng và uộc vợ chồng ông T, bà H1 phải thanh toán cho vợ chồng ông H, bà V số tiền 60.000.000đ (cả lãi suất). Quá trình thi hành án thì năm 2012 hai n đã thỏa thuận cấn trừ 3,2m ngang đất cho vợ chồng ông H, bà V vào số tiền mà vợ chồng ông T, bà H1 phải thanh toán cho vợ chồng ông H, bà V; hai n đã giao nhận đất xong và hông thắc mắc gì, tuy nhi n hai n lại hông lập giấy tờ gì. Vợ chồng ông T, bà H1 nghĩ sự việc như tr n là xong nhưng do vợ chồng ông H, bà V có đơn y u cầu n n Chi cục thi hành án dân sự huyện X thi hành ản án của T a án và uộc vợ chồng ông T, bà H1 phải thanh toán số tiền gần 60.000.000đ (cả lãi suất) và vợ chồng ông T, bà H1 đã nộp đủ.
Vì vậy, vợ chồng ông T, bà H1 hởi iện y u cầu vợ chồng ông H, bà V phải tháo dỡ toàn ộ công trình xây dựng tạm tr n diện tích đất tranh chấp để trả lại cho vợ chồng ông à diện tích đất tranh chấp theo ết quả đo vẽ là 133m2 thuộc một phần thửa đất số 217, tờ ản đồ số 14 tại Thôn A, xã B đã được UBND huyện X cấp GCNQSDĐ mang t n vợ chồng ông H, bà V.
Bị đơn vợ chồng ông Lê Văn H, bà Trần Thị V trình bày:
Vào năm 2004 vợ chồng ông T, bà H1 có án cho vợ chồng ông à 01 diện tích đất có chiều rộng 10m, chiều dài hoảng 50m với giá 50.000.000đ, vợ chồng ông H, bà V đã giao trước 45.000.000đ, hai n có lập giấy tờ tay. Sau đó vợ chồng ông T, bà H1 hông có đất để giao do đất ị UBND xã B thu hồi. Sau đó năm 2007 vợ chồng ông H, bà V hởi iện vợ chồng ông T, bà H1 và được T a án huyện X giải quyết hủy hợp đồng chuyển nhượng và uộc vợ chồng ông T, bà H1 phải thanh toán cho vợ chồng ông H, bà V số tiền hoảng 58.000.000đ (cả lãi suất).
Khi Chi cục thi hành án dân sự huyện X vào làm việc với vợ chồng ông T, bà H1 thì lúc đó vợ chồng ông T, bà H1 đã được cấp đất nhưng chưa được cấp GCNQSDĐ n n Chi cục thi hành án đã trả đơn y u cầu thi hành án của vợ chồng ông H, bà V. Sau đó vợ chồng ông T, bà H1 được UBND huyện cấp ù cho lô đất có chiều rộng là 5m (vợ chồng ông T, bà H1 hiện nay đã làm nhà và đang ở tr n diện tích đất này) thì Chi cục thi hành án dân sự huyện X vào làm việc thì vợ chồng ông T, bà H1 mới trả hết tiền cho vợ chồng ông H, bà V.
Vợ chồng ông H, bà V cho rằng hông có việc cấn trừ đất như vợ chồng ông T trình ày n n vợ chồng ông H, bà V hông đồng trả lại phần đất như vợ chồng ông T, bà H1 y u cầu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà Nguyễn Thị H1: Thống nhất như lời trình ày và y u cầu của ông Trần Nguyên T (chồng à) và à hông có iến gì ổ sung.
Ủy ban nhân dân huyện X, đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Trung T1 trình bày:
Việc UBND huyện X cấp giấy chứng nhận QSD đất cho hộ ông Trần Nguy n T, bà Nguyễn Thị H1 đối với thửa đất số 819, tờ ản đồ số 14 xã B tại Quyết định số 2836/QĐ-UBND ngày 15/6/2012 và cấp giấy chứng nhận QSD đất cho hộ ông L Văn H, bà Trần Thị V đối với thửa đất số 217, tờ ản đồ số 14 xã B tại Quyết định số 1939/QĐ-UBND ngày 11/9/2008 là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Việc điều ch nh diện tích của thửa đất số 217, tờ ản đồ số 14 xã B từ 296m2 thành 427m2 là do năm 2012 thửa đất số 217 được hợp với 131m2 từ thửa đất số 819, tờ ản đồ số 14 xã B. Đề nghị T a án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
T a án đã h a giải nhưng hông thành.
Tại ản án sơ thẩm số 18/2017/DS-ST ngày 18/7/2017 của T a án nhân dân huyện X đã xử :
Chấp nhận toàn ộ y u cầu hởi iện của ông Trần Nguy n T đối với vợ chồng ông L Văn H, bà Trần Thị V về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất".
Buộc vợ chồng ông L Văn H, bà Trần Thị V phải tháo dỡ toàn ộ công trình xây dựng tạm tr n diện tích đất tranh chấp để trả lại cho vợ chồng ông Trần Nguyên T, bà Nguyễn Thị H1 diện tích 133m2 đất nông nghiệp (có Trích đo địa chính thửa đất ngày 13 tháng 8 năm 2015 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện X, tỉnh Lâm Đồng kèm theo).
- Hủy một phần Quyết định số 1939/QĐ-UBND ngày 11/9/2008 của UBND huyện X về việc cấp Giấy chứng nhận QSD đất số BK 736361 ngày 21/5/2012 cho hộ ông L Văn H, bà Trần Thị V đối với thửa đất số 217, tờ ản đồ số 14 xã B, huyện X.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ và chi phí thẩm định giá tài sản: Buộc vợ chồng ông L Văn H, bà Trần Thị V phải trả cho ông Trần Nguy n T số tiền 4.377.800đ (bốn triệu ba trăm bảy mươi bảy ngàn tám trăm đồng).
Ngoài ra, Bản án c n tuy n về án phí, quyền háng cáo và trách nhiệm thi hành án của các đương sự.
Ngày 31/7/2017 vợ chồng ông L Văn H, bà Trần Thị V kháng cáo toàn ộ ản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa hôm nay: Bà V vẫn giữ nguy n y u cầu háng cáo.
Luật sư ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ị đơn đề nghị chấp nhận y u cầu háng cáo của ị đơn, hủy ản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện X giải quyết lại.
Ông T, bà H1 hông đồng với y u cầu háng cáo của ị đơn, đề nghị giải quyết như án sơ thẩm.
Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh Lâm Đồng n u iến về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai đoạn phúc thẩm cũng như tại phi n t a hôm nay Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời n u quan điểm đề nghị hông chấp nhận háng cáo của ông H, bà V. Căn cứ hoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguy n ản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau hi nghi n cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phi n t a và căn cứ vào ết quả tranh luận tại phi n t a; ý iến phát iểu của đại diện Viện iểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Nguy n đơn ông T hởi iện y u cầu vợ chồng ông H, bà V tháo dỡ công trình xây dựng tạm tr n đất, trả lại diện tích đất 310m2 (đo thực tế 133m2) thuộc một phần thửa đất số 217, tờ ản đồ số 14, Thôn A, xã B, huyện X, ị đơn vợ chồng ông H, bà V hông đồng n n phát sinh tranh chấp. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị đơn ông H, bà V, đối chiếu với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã được cấp sơ thẩm thu thập thể hiện:
Thửa đất số 819, tờ ản đồ số 14, xã B diện tích 310m2 đất nông nghiệp được Ủy an nhân dân huyện X cấp cho vợ chồng ông T, bà H1 có nguồn gốc được tách từ thửa đất số 270, tờ ản đồ số 14, xã B theo Quyết định số 517/QĐ-UB ngày 10/3/2010 của Ủy an nhân dân huyện X về việc “Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2003-2010 tại địa bàn xã B, huyện X”
Tuy nhi n, trước đó năm 2004 vợ chồng ông T, bà H1 cùng vợ chồng ông H, bà V và ông Dũng góp tiền mua chung thửa đất 270, tờ ản đồ số 14 của ông Phan Văn Lượng, trong đó vợ chồng Hiên, bà V góp 45.000.000đ. Do ông Lượng ch viết giấy án đứng t n một mình ông T và do đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hai n đã hợp thức hóa ằng việc ông T viết giấy bán đất cho vợ chồng ông H, bà V 10m ngang với giá 50.000.000đ vào ngày 02/4/2004. Sau đó, thửa đất 270 ị thu hồi ch c n lại 270m2 cấp cho vợ chồng ông T, bà H1. Do một phần diện tích đất ị thu hồi và ông T hông có tiền để trả cho vợ chồng ông H, bà V n n các n đã thống nhất cấn trừ 3,2m đất ngang mặt đường Quốc lộ 55 cho vợ chồng ông H, bà V sử dụng. Ngày 02/01/2007 ông H đã làm đơn hởi iện y u cầu T a án hủy giấy sang nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 02/4/2004 giữa ông T và ông H. Theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 38/2007 ngày 14/8/2007 thì ông T và ông H thống nhất hủy ỏ hợp đồng chuyển nhượng đất lập ngày 02/4/2004 và ông T phải có trách nhiệm trả cho ông H số tiền 58.680.000đ, trong đó tiền gốc là 45.000.000đ và tiền lãi là 13.680.000đ. C n việc cấn trừ đất thì do chưa n nào được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất n n Tòa án không giải quyết. Quá trình thi hành án, do hông có tiền trả n n năm 2012 các n tiếp tục thỏa thuận cấn trừ số tiền nợ ằng 3,2 m ngang đất mặt đường Quốc lộ 55, chiều dài chạy hết đất với diện tích 131m2 tách từ thửa 819, tờ ản đồ số 14 của vợ chồng ông T.
Sau hi đã thỏa thuận cấn trừ đất, vợ chồng ông H, bà V đã làm thủ tục đăng
hai th m diện tích đất do các n thỏa thuận và được Ủy an nhân dân huyện X cấp đổi thành thửa 217 với diện tích 427m2. Mặc dù việc cấn trừ đất hai n hông lập giấy tờ gì nhưng lời hai của ông T hoàn toàn phù hợp với trình ày của bà V trong các i n ản làm việc, giải quyết tại Ủy an nhân dân xã B vào các ngày 30/5/2006 và ngày 10/8/2006 (BL số 22, 25, 67) bà V cho rằng ông T đã giao 3m ngang mặt đường Quốc lộ 55 và phù hợp với diện tích đất vợ chồng ông H, bà V
hai th m năm 2012 diện tích 131m2 là đúng với nội dung Công văn số 23/UBND ngày 06/01/2017 của UBND huyện X cho rằng “Năm 2012, thửa đất số 217, tờ bản đồ số 14 xã B có diện tích 296m2 được hợp với 131m2 từ thửa 819, tờ bản đồ số 14 và đã được UBND huyện X cấp đổi thành thửa 217 diện tích 427m2”. Tuy nhi n, sau hi thỏa thuận cấn trừ đất xong nhưng đến năm 2014 vợ chồng ông H, bà V lại tiếp tục làm đơn y u cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện X thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 38/2007 ngày 14/8/2007 của T a án và uộc vợ chồng ông T, bà H1 phải thanh toán số tiền gần 60.000.000đ (cả gốc và lãi) và vợ chồng ông T, bà H1 đã thi hành án xong.
Do đó, việc ông T hởi iện y u cầu vợ chồng ông H, bà V trả lại diện tích 131m2 (theo ết quả đo vẽ là 133m2) thuộc một phần thửa 217 tờ ản đồ 14 tọa lạc tại Thôn A, xã B, huyện X, t nh Lâm Đồng là có căn cứ chấp nhận.
Tr n diện tích đất tranh chấp vợ chồng ông H, bà V có xây nhà tạm cấp 4 để kinh doanh uôn án cà ph , i da, ết cấu thể hiện nền láng xi măng, tường xây gạch dày 10cm quyét vôi (01 vách là tường mượn), xà gồ sắt+ gỗ, mái lợp tôn, tường có vết nứt. Công trình xây dựng tr n đất hiện nay vẫn c n đang sử dụng được. Nếu uộc ị đơn tháo dỡ sẽ trở thành phế liệu, để tránh thiệt hại cho các bên, cần giao cho nguy n đơn được sở hữu công trình xây dựng tr n trên diện tích đất tranh chấp. Buộc nguy n đơn thanh toán lại giá trị công trình xây dựng tr n đất cho ị đơn là phù hợp. Theo chứng thư thẩm định giá (BL số 54) giá trị công trình xây dựng tr n đất là 130.503.135đ , tuy nhi n việc thẩm định giá đã thực hiện từ ngày 16/7/2014 qua thời gian đến nay công trình cũng đã xuống cấp cần phải tính hấu hao n n uộc nguy n đơn thanh toán cho ị đơn 2/3 giá trị theo chứng thư thẩm định giá là 87.002.900đ là thỏa đáng.
Cấp sơ thẩm đã tuy n hủy một phần quyết định số 1939/QĐ-UBND ngày 11/9/2008 của UBND huyện X là hông đúng vì quyết định cấp đất là quyết định hành chính n n cần sửa lại là Hủy một phần Giấy chứng nhận QSD đất số BK 736361 do UBND huyện X cấp ngày 21/5/2012 cho hộ ông L Văn H, bà Trần Thị V đối với thửa đất số 217, tờ ản đồ số 14 xã B, huyện X đối với diện tích 131m2.
Từ những phân tích tr n, cần chấp nhận một phần y u cầu háng cáo của ị đơn, sửa án sơ thẩm theo hướng đã nhận định.
Về chi phí tố tụng: Do y u cầu của nguy n đơn được chấp nhận n n uộc ị đơn vợ chồng ông H, bà V phải hoàn trả cho ông T số tiền thẩm định tại chỗ, đo vẽ, thẩm định giá tài sản là 4.377.800đ. Bị đơn vợ chồng ông H, bà V phải chịu 1.300.000đ chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ (đã ứng chi và quyết toán xong).
Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên ị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định cụ thể:
Vợ chồng Tân, bà H1 phải chịu án phí sơ thẩm tr n số tiền phải thanh toán lại cho vợ chồng ông H, bà V là 87.002.900đ x 5% = 3.600.104đ.
Vợ chồng ông H, bà V phải chịu án phí sơ thẩm tr n giá trị đất phải trả lại cho vợ chồng ông T, bà H1 là 118.144.000đ x 5% = 5.907.200đ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy an thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí T a án.
Chấp nhận một phần y u cầu háng cáo của ị đơn vợ chồng ông L Văn H, bà Trần Thị V, sửa ản án sơ thẩm. Xử:
1. Chấp nhận một phần y u cầu hởi iện của ông Trần Nguy n T đối với vợ chồng ông L Văn H, bà Trần Thị V về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất".
Buộc vợ chồng ông L Văn H, bà Trần Thị V trả lại cho vợ chồng ông Trần Nguyên T, bà Nguyễn Thị H1 diện tích 133m2 đất nông nghiệp (có Trích đo địa chính thửa đất ngày 13 tháng 8 năm 2015 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện X, tỉnh Lâm Đồng kèm theo). Vợ chồng ông Trần Nguy n T, bà Nguyễn Thị H1 được sở hữu, sử dụng toàn ộ công trình xây dựng tr n đất.
Buộc vợ chồng ông Trần Nguy n T, bà Nguyễn Thị H1 phải thanh toán cho vợ chồng ông L Văn H, bà Trần Thị V giá trị công trình xây dựng tr n đất số tiền 87.002.900đ (tám mươi bảy triệu không trăm linh hai ngàn chín trăm đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn y u cầu thi hành án, n phải thi hành án c n phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2, Điều 357 Bộ luật Dân sự.
- Hủy một phần Giấy chứng nhận QSD đất số BK 736361 do UBND huyện X cấp ngày 21/5/2012 cho hộ ông L Văn H, bà Trần Thị V đối với thửa đất số 217, tờ ản đồ số 14 xã B, huyện X đối với diện tích 131m2.
Các đương sự được quyền li n hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật về đất đai.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc vợ chồng ông L Văn H, bà Trần Thị V phải trả cho ông Trần Nguy n T số tiền 4.377.800đ (bốn triệu ba trăm bảy mươi bảy ngàn tám trăm đồng).
3. Về án phí: Buộc vợ chồng ông Trần Nguy n T, bà Nguyễn Thị H1 phải chịu 3.600.104đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 750.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo i n lai thu số 0007409 ngày 21/10/2014 của Chi cục thi hành án dân sự huyện X, t nh Lâm Đồng. Ông T, à Hi n c n phải nộp 2.850.104đ án phí.
Buộc vợ chồng ông L Văn H, bà Trần Thị V phải chịu 5.907.200đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004825 ngày 07/8/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện X. Ông H, bà V c n phải nộp 5.607.200đ án phí.
Trường hợp ản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuy n án./.
Các Thẩm phán
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hữu Hồng Bùi Hữu Nhân
Vũ Thị Nguyệt
| Nơi nhận: - VKSND t nh Lâm Đồng; - Phòng KTNV-THA; - TAND huyện X; - Chi cục THA DS huyện X; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Nguyệt |