- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Mạnh C - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Mạnh C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 28/2017/HSST Ngày 21-11-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Như Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiền và bà Nguyễn Thị Yên.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Mùi Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2017/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2017/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:
Trần Mạnh C, sinh năm 1991; huyện Q, Thái Bình; Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Tạm trú tại: Tiểu khu X, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Đăng K và bà Nguyễn Thị S; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 07 tháng 9 năm 2017. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 30 phút ngày 07/9/2017, tổ công tác Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại khu vực Tiểu khu Y, thị trấn N, huyện M kiểm tra hành chính về ma túy với Trần Mạnh C đã phát hiện thu giữ 01 gói nilon màu trắng, tiếp đến là lớp nilon màu đen bên trong đựng 34 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY được cất giấu trong mũ bảo hiềm. Cường khai nhận 34 viên nén màu hồng là ma túy tổng hợp của C mua về để sử dụng chung cùng đối tượng tên là T, sinh năm 1995, trú tại tỉnh Thái Bình.
Về nguồn gốc số ma túy C khai mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết ở bản P, xã V, huyện V hết 1.700.000đ.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, xác định trọng lượng 34 viên nén màu hồng thu giữ của Trần Mạnh C có trọng lượng là 3,33 gam. Lấy 10 viên = 0,99 gam làm mẫu gửi giám định, xác định có phải ma túy không, thuộc loại chất ma túy gì, trọng lượng (khối lượng) của mẫu gửi giám định là bao nhiêu, mẫu ký hiệu “C”.
Tại kết luận giám định số 892/KLMT ngày 25/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “ Mẫu gửi giám định ký hiệu C là chất ma túy; Loại chất Methamphetamine; trọng lượng của mẫu gửi giám định là 0,99 gam. Trọng lượng chất ma túy thu giữ được 3,33 gam, loại chất Methamphetamine”.
Quá trình điều tra Trần Mạnh C giữ nguyên lời khai như trong quá trình bắt giữ.
Bản cáo trạng số 207/CT-VKS ngày 08/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố Trần Mạnh C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Mạnh C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt bị cáo như sau:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội khóa 14; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Trần Mạnh C từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 2,34 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niên phong bên ngoài ghi test thử của Trần Mạnh C; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi hoàn trả mẫu giám định vụ án Trần Mạnh C và 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu, màu cam, mặt trước ghi chữ APOLLOHELMET.
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Mạnh C khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo Trần Mạnh C vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 13 giờ 40 phút ngày 07/9/2017; biên bản niêm phong vật chứng, biên bản xác định trọng lượng, kết quả giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ căn cứ kết luận: Ngày 07/9/2017 Trần Mạnh C đã có hành vi tàng trữ 3,33 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, quy định mức hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định người nào tàng trữ trái phép từ 0,1 gam đến dưới 05 gam Methamphetamine thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội khóa 14 và khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì cần áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt theo hướng có lợi cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo Trần Mạnh C chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy với mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Trần Mạnh C là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.
Xét về nhân thân của bị cáo thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma tuý.
Với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo Trần Mạnh C là đối tượng nghiện ma tuý, không có tài sản gì có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 2,34 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niên phong bên ngoài ghi test thử của Trần Mạnh C; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi hoàn trả mẫu giám định vụ án Trần Mạnh C và 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu, màu cam, mặt trước ghi chữ APOLLOHELMET là vật Nhà nước cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với người đàn ông tên T, sinh năm 1995, trú tại tỉnh Thái Bình là người đã chở C và đưa tiền cho C đi mua ma túy về để cùng sử dụng và người phụ nữ người dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo (như bị cáo khai). Do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ của hai đối tượng này nên không có căn cứ để điều tra xác minh, xử lý.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Mạnh C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội khóa 14; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Trần Mạnh C 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 07/9/2017. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 41 BLHS, khoản 1, 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 2,34 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niên phong bên ngoài ghi test thử của Trần Mạnh C; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi hoàn trả mẫu giám định vụ án Trần Mạnh C và 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu, màu cam, mặt trước ghi chữ APOLLOHELMET.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Trần Mạnh C phải chịu là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - THAHS; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo - Lưu: hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Đỗ Như Khánh |