vanban.org

Bản án 28/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 14/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn B về tội Trộm cắp tài sản - Bị truy tố tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BÔI
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28 /2017/HSST.
Ngày: 14/9/2017.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thành– Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình

- Các hội thẩm nhân dân:

+ Ông Bùi Văn Phương – Phó giám đốc Bệnh viện đa khoa huyện Kim Bôi

+ Ông Bùi Văn Thức – Cán bộ hưu trí

- Thư ký ghi B bản phiên toà: Bà Bùi Thị Ánh Tuyết

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Vũ – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 14 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, T a án nh n d n huyện Kim Bôi mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2017/HSST ngày 20 tháng 07 năm 2017, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/ 2017/ HSST-QĐ, ngày 01 tháng 9 năm 2017, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Văn B. Sinh ngày 19/10/1983; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm V, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Bùi Quang L ( đã chết). Con bà: Bùi Thị C, sinh năm 1945. Vợ: Bùi Thị N, sinh năm 1987. Con: có 01 con sinh năm 2012. Đều trú tại: xóm V, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình

Gia đình có 08 chị em ruột, bị can là con thứ bẩy

Tiền án, tiền sự: Không

Hiện bị cáo Bùi Văn B đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xóm V, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa

2. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Anh Bùi Văn B, sinh năm: 1986.Trú tại: Xóm V, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Có mặt

3 .Người bị hại Bùi Văn H, sinh năm 1981. Trú tại: Xóm V, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Có mặt

4. Người làm chứng Bùi Thị C, sinh năm 1945. Trú tại: Xóm V, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt

“NỘI DUNG VỤ ÁN:”

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dụng vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Bùi Văn B bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi truy tố về hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng 14 giờ ngày 05 tháng 3 năm 2017, Bùi Văn B đến quán gia đình anh Bùi Văn H trú tại xóm V, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình, với mục đích chơi Bi A. Trong lúc anh H và B chơi Bi A, anh H có để chiếc điện thoại di động Apple Iphone 6 trên mặt bàn. B đã nảy ra ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của anh H. Lợi dụng lúc anh H không để ý, bị cáo B đã lấy chiếc điện thoại của anh H dấu xuống gầm bàn Bi A, do không có cơ hội mang điện thoại ra khỏi bàn nên đến 17 giờ 30 phút B đã đi về nhà.

Đến khoảng 21 giờ cùng ngày B quay lại quán anh H tiếp tục rủ anh H chơi Bi A với mục đích lấy chiếc điện thoại. Trong lúc đang chơi anh H có khách anh ra bán hàng. B đã lấy chiếc điện thoại để ở gầm bàn cho vào túi quần. Khi anh H quay lại B nói đau bụng không chơi nữa và đi về nhà. B bỏ chiếc điện thoại vào túi áo. Đến ngày 07 tháng 3 năm 2017 bị cáo Bùi Văn B ra cơ quan điều tra đầu thú và giao nộp chiếc điện thoại. Trị giá chiếc điện thoại của anh H loại Apple Iphone 6 là 5.800.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại cho chủ sở hữu anh Bùi Văn H.

Cáo trạng số 23/CT – VKS ngày 20 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh H a Bình đã truy tố bị cáo Bùi Văn B về tội Trộm cắp tài sản, phạm vào khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại phiên t a đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn B về tội trộm cắp tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138 và điểm b,g,h,p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điều 60 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn B từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo

Ý kiến của bị cáo Bùi Văn B và ý kiến của người đại diện cho bị cáo: Đều đồng ý về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà kiểm sát viên đề nghị HĐXX. Không có ý kiến tranh luận.

Ý kiến của người bị hại: Đề nghị Hội đồng xét xử xử xử phạt nhẹ bị cáo, không yêu cầu bồi thường.

Lời đề nghị sau cùng của bị cáo Bùi Văn B: Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo

“NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ : ”

Trên cơ sở nội dung vụ án. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên t a. Căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên t a, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, khách quan các chứng cứ, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau

Về hành vi quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện Kim Bôi, điều tra viên, viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn B thì cho thấy. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn B đều khai nhận, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức được hành vi và việc làm đúng sai của mình. Bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chuyển dịch tài sản chiếc điện thoại Apple Iphone 6 của anh H có giá trị 5.800.000 đồng ra khỏi nơi quản lý của anh H với mục đích chiếm đoạt.

Xét lời khai nhận của bị cáo, đã phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của bị cáo đã được người đại diện công nhận là đúng và khách quan, do đó có đủ căn cứ quy kết bị cáo Bùi Văn B phạm tội Trộm cắp tài sản, phạm vào khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự của nước CHXHCN Việt Nam

Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cuả bị cáo trong vụ án này thì cho thấy, bị cáo Bùi Văn B phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng,sau khi phạm tội bị cáo mang tài sản giao nộp cơ quan điều tra nhằm khắc phục hậu quả. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối lỗi, đầu thú hành vi phạm tội. Mặt khác bị cáo có tiểu sử về nh n th n, có nhược điểm về thể chất xong đã được khỏi bệnh. Tuy nhiên gia đình cho biết, bị cáo có nhiều lúc không bình thường, nhận thức kém. Hoàn cảnh bị cáo hộ nghèo. Như vậy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,h,p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Từ các căn cứ nêu trên. HĐXX xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Xét chỉ cần hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo Bùi Văn B cũng đủ giáo dục, răn đe và ph ng ngừa tội phạm, buộc bị cáo phải chịu thời gian thử thách theo Điều 60 Bộ luật hình sự

Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải nộp 200.000 đồng theo quy định tại điều 98, 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Vì các lẽ trên

“QUYẾT ĐỊNH”

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn B, phạm tội trộm cắp tài sản

Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm b, p,h khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn B 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 14 tháng 9 năm 2017

Giao bị cáo Bùi Văn B cho Ủy ban nhân dân xã K và gia đình quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách

Trường hợp bị cáo Bùi Văn B thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự

3. Về án phí: Áp dụng điều 98, 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.Buộc bị cáo Bùi Văn B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án này theo trình tự phúc thẩm

Án xử công khai sơ thẩm

Cỡ chữ