vanban.org

Bản án 28/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 08/08/2017 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "" Ly hôn và tranh chấp nuôi con " giữa chị H và a T"
  • Căn cứ chính? Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 28/2017/HNGĐ-ST
Ngày 08-8-2017
“V/v: Ly hôn và tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tro ̣ng Đa ̣i

Ông Nguyễn Lê Biên

- Thư ký phiên tòa: Ông Lã Ngọc Tiền - Thư ký TAND tinh Nam Đi ̣̉

nh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:

Bà Lưu Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2017/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2017 về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” . Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thùy H, sinh năm 1993; Đăng ký hô ̣ khẩu: Xóm H, xã X, huyê ̣n X, tỉnh Nam Định; Chỗ ở: Xóm 7, thôn T, xã T, huyê ̣n T, tỉnh Thái Bình.

2. Bị đơn: Anh Mai Chi T , sinh năm 1990; Đi ̣a chỉ: Xóm H, xã X, huyê ̣n

́ X, tỉnh Nam Định.

Tại phiên toà sơ thẩm: Chị H, anh T có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/02/2017 và quá trình tố tụng tại Tòa án

nguyên đơn là chị Phạm Thùy H trình bày:

Chị và anh Mai Chi T tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết

́ hôn năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Sau đó , vợ chồng ở cùng vớ i bố me ̣ anh T tại Đội 7, xóm H, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Chị và anh T có một con chung là Mai Pha ̣m Bảo N , sinh ngày 26/9/2013, khi con chung chưa được 1 tuổi, anh T tự ý đi lao đô ̣ng xuất khẩu ta ̣i Đài Loan. Trong thờ i gian anh T ở nước ngoài, có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác và nhắn tin về yêu cầu chi ̣ ly hôn vớ i anh T. Khi cháu N được gần 2 tuổi, chị gửi con cho bà Mai Thi ̣ X là mẹ đẻ anh T nuôi dưỡng, chị đi làm ở Hà Nội. Sau đó, đi làm ta ̣i tinh Bắc Ninh, khoảng 2 tháng chị về thăm cháu N mô ̣̉

t lần có mua sữa dây và đưa cho bà X 500.000đ, có lần chị muốn đưa cháu sang Thái Bình chơi nhưng bà X không cho, mà gọi anh em đến đuổi đánh và yêu cầu chị viết đơn ly hôn vớ i anh T. Từ khi anh T về Viê ̣t Nam sinh sống, chị và anh T không liên la ̣c vớ i nhau, nay chi ̣ và anh T không còn tinh cảm vớ i nhau, khác biệt nhau về quan

̀

điểm sống, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghi ̣ Tòa án cho chị được ly hôn vớ i anh T.

Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là cháu Mai Phạm Bảo N , sinh ngày 26/9/2013. Nay chi ̣ và anh T ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và công nợ chung: Vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa á n bi ̣ đơn là anh Mai Chi T

́ trình bày:

Anh nhất tri vớ i lờ i trinh bày của chi ̣ H về quá trinh tim hiểu và thờ i gian

́

̀

̀

̀ kết hôn. Sau khi kết hôn, anh và chi ̣ H ở với bố mẹ anh tại Đội 7, xóm H, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Đến năm 2014 do kinh tế gia đinh khó khăn , anh đi

̀ lao đô ̣ng xuất khẩu ta ̣i Đài Loan , chị H cũng nhất trí. Thờ i gian mô ̣t năm ở Đài Loan, vợ chồng thườ ng xuyên liên la ̣c vớ i nhau , anh có gửi tiền về cho chị H nuôi con. Đến tháng 10/2015 chị H xin phép me ̣ anh đi làm trên Hà Nô ̣i , nhưng không biết chi ̣ H làm gì ở đâu. Đến khoảng tháng 2 năm 2016 anh và chi ̣ H phát sinh mâu thuẫn , chị H nghi ngờ anh quan hê ̣ bất chinh vớ i ngườ i phu ̣ nữ khác .

́ Anh về Viê ̣t Nam từ ngày 10/5/2017 đến nay, anh và chi ̣ H không liên la ̣c vớ i nhau, chị H cũng không về thăm cháu N . Nay tinh cảm vợ chồng không thể hàn

̀ gắn được, chị H xin ly hôn, anh cũng nhất tri, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh

́

và chị H được ly hôn.

Về con chung : Anh và chi ̣ H có một con chung là Mai Phạm Bảo N , sinh ngày 26/9/2013, hiê ̣n đang ở vớ i anh . Khi anh đi lao đô ̣ng xuất kh ẩu tại Đài Loan thi bà X là mẹ đẻ anh nuôi dưỡng cháu N, từ khi chi ̣ H đi làm trên Hà Nô ̣i,

̀ bà X nói chi ̣ H có về thăm cháu N bao nhiêu lần anh khô ng biết chinh xác. Nay

́ vợ chồng ly hôn anh đề n ghị được nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu chị H đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và công nợ chung: Vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại công văn số 11/CV-UBND ngày 06/7/2017 của UBND xã X huyện X , tỉnh Nam Định cung cấp: Trong quá trình chung sống anh T chị H có xảy ra mâu thuẫn, năm 2014 anh T đi lao đô ̣ng xuất khẩu ta ̣i Đài Loan, chị H trực tiếp nuôi cháu N đến năm 2015, chị H đi làm ăn ta ̣i Hà Nô ̣i, bà X là bà nội trực tiếp nuôi dưỡng cháu N . Trong thờ i gian đi làm xa , chị H có mấy lần về thăm con và mang sữa và tiền đưa cho bà X tổng 3 lần khoảng 1.500.000đ để nuôi con. Hiê ̣n nay, cháu N đang ở với bà X và anh T. Bố me ̣ anh T là ông Mai Tro ̣ng P và bà Mai Thi ̣ X có 2 con, chị Mai Thị K là chị gái anh T đa xây dự̃

ng gia đinh riêng ở

̀ xóm H, xã X, huyê ̣n X, tỉnh Nam Đi ̣nh . Hiê ̣n nay, bà X ở cùng với anh T . Về quan hê ̣ tinh cảm giữa a nh T và chi ̣ H đề nghị giải quyết theo pháp luật , về con

̀ chung đề nghi ̣ Tòa án xem xét giao con chung cho anh T nuôi dưỡng.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Chị H giữ nguyên đơn khở i kiê ̣n. Anh T giữ nguyên lờ i trinh bày như đa nêu trên.̃

̀

Kiểm sát viên-Viện kiểm sát tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân theo các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm. Về đườ ng lối giải quyết vụ án, chị H anh T tự nguyê ̣n tim hiểu có đăng ký kết hôn năm 2013 tại

̀

UBND xa X là hôn nhân hợp pháp, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâũ thuẫn, tình cảm vợ chồng không hàn gắn được, anh chi ̣ đều thuâ ̣n tinh ly hôn, đề

̀ nghị HĐXX công nhận thuận tình ly hôn giữa chị H và anh T. Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung là cháu Mai Phạm Bảo N, sinh ngày 26/9/2013 hiê ̣n đang ở vớ i anh T trên thổ đất củ a bà Mai Thi ̣ X là mẹ đẻ anh T , anh T có việc làm, thu nhâ ̣p ổ n đi ̣nh đề nghi ̣ giao cháu N cho anh T nuôi dưỡng

, do anh T không yêu cầu chi ̣ H cấp dưỡng nuôi con nên chi ̣ H không phải đóng góp nuôi con chung. Về án phi giải quyết theo pháp luâ ̣t.

́

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứ ng cứ có trong h ồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà sơ thẩm và căn c ứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Chị Phạm Thùy H và a nh Mai Chí T trên cơ sở tự do tim hiểu tự

̀ nguyê ̣n đăng ký kết hôn năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định là hôn nhân hợp pháp . Hai bên đều xác nhận, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau một thời gian thì anh T đi lao động xuất khẩu tại Đài Loan. Do vợ chồng xa nhau đã phát sinh mâu thuẫn, tình cảm sứt mẻ, rạn vỡ, không thể hàn gắn được và đều thuận tình ly hôn. Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa chị H và anh T không đạt được và cả hai bên đều có nguyện vọng được thuận tình ly hôn, nên căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015, HĐXX công nhận thuận tình ly hôn giữa chị H và anh T.

[2] Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung là cháu Mai Phạm Bảo N, sinh ngày 26/9/2013. Khi chi ̣ H nô ̣p đơn khở i kiện tại Tòa án thì anh T đang ở nước ngoài, nay anh T đa về Viê ̣̃

t Nam sinh sống trên thổ đất của bố me ̣ anh T là bà Mai Thị X và ông Mai Trọng P (là thương binh đã chết ) anh T có một chị ruô ̣t đa đi xây dự̃

ng gia đinh riêng có c hỗ ở ổn định. Hiê ̣n nay, anh T đang làm

̀ phiên di ̣ch cho phân xưở ng E vớ i mứ c lương trên 7.000.000đ/tháng tại Công ty giày da A; đi ̣a chỉ: Thị trấn C , huyê ̣n T, tỉnh Nam Định . Khi anh Thọ ở nước ngoài chị H chỉ nuôi dưỡng cháu N khoảng mô ̣t năm, thì giao cháu N cho bà X nuôi dưỡng để đi làm ở Hà N ội, Bắc Ninh, nhưng chi ̣ H không thườ ng xuyên về thăm cháu N. Hiê ̣n nay, chị H làm việc tại Bắc Ninh có thu nhập ổn định nhưng phải thuê nhà tro ̣, từ khi anh T về V iê ̣t Nam chi ̣ H không về thăm con chung . HĐXX xét thấy hiê ̣n cháu N đang ở vớ i anh T trên thổ đất của bà X , anh T có nghề nghiê ̣p thu nhâ ̣p ổn đi ̣nh và đảm bảo các quyền lợi về mo ̣i mă ̣t của con chung. Do vâ ̣y, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luâ ̣t Hôn nhân và gia đi nh năm 2015,

̀ HĐXX giao cháu N cho anh T nuôi dưỡng . Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh T không yêu cầu chi ̣ H phải cấp dưỡng nuôi con chung nên chi ̣ H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi cháu N . Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

[3] Về công nợ và tài sản chung của vợ chồng: Không có.

[4] Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H tự nguyê ̣n nô ̣p toàn bô ̣.

Vì các lẽ trên;

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

Áp dụng Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thùy H và anh Mai Chí T.

2. Về con chung: Giao con chung Mai Pha ̣m Bảo N, sinh ngày 26/9/2013 cho anh Mai Chi T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không phải đóng góp cấp dưỡng

́ nuôi con . Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc , giáo dục con chung.

3. Án phí ly hôn sơ thẩm : Chị Phạm Thùy H tự nguyê ̣n nô ̣p là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng ) nhưng đối trừ với số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm chị H đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng ) theo biên lai số 0000007 ngày 23/02/2017 của Cu ̣c Thi hành án dân s ự tỉnh Nam Định. ChịH đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Chị Phạm Thùy H và anh Mai Chí T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

Cỡ chữ