- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Y xin ly hôn Nguyễn Phúc L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Phúc L.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 28/2017/HNGĐ – ST Ngày 15 - 12 - 2017 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quang Thái.
Bà Trương Thị Hương Nghĩa.
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thành – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Phó Văn Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 245/2017/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2017 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2017/QĐXXST- HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2017, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1980; cư trú tại: Thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Phúc L, sinh năm 1977; cư trú tại: Thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 9 năm 2017 và những lời khai trong quá trình làm việc cũng như tại phiên toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Phúc L kết hôn ngày 08 tháng 11 năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc là quê anh L. Trước khi kết hôn vợ chồng chị được tự do tìm hiểu, rồi tự nguyện đi đến hôn nhân; sau khi kết hôn chị và anh L ở riêng. Tình cảm vợ chồng thời gian đầu chỉ hòa thuận, không hạnh phúc, đến khoảng năm 2014 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh L hay uống rượu, không chỉn chu làm ăn nên thường xuyên xảy ra cãi nhau, mâu thuẫn lớn nhất vào năm 2016, nhiều lần được hai bên gia đình giải quyết nhưng không thành. Tháng 7 năm 2017, chị đã làm đơn khởi kiện xin ly hôn anh L và đã được Tòa án huyện Bình Xuyên thụ lý giải quyết, quá trình giải quyết vụ án, anh L hứa sẽ thay đổi nên chị đã cho anh L cơ hội, do đó chị đã rút đơn khởi kiện để vợ chồng đoàn tụ nhưng kể từ đó anh L không thay đổi mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Nay chị xét thấy không thể tiếp tục chung sống cùng anh L được nữa nên chị đã có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh L, tại phiên tòa chị vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh L để cả hai có cơ hội tạo lập cuộc sống mới.
Về nuôi con chung: Vợ chồng chị có một con chung là cháu Nguyễn Thị Hồng H, sinh ngày 23 tháng 9 năm 2014, hiện nay cháu H đang sống cùng chị và anh L. Quá trình giải quyết vụ án chị xin được nuôi cháu H và yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị nhưng ngày 14 tháng 12 năm 2017 và tại phiên tòa chị thay đổi quan điểm là để anh L là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu H, chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh L.
Về con riêng: Trước khi chị lấy anh L, chị có 01 con riêng là cháu Nguyễn Anh Đ, sinh ngày 20 tháng 8 năm 2007, sau khi chị lấy anh L, cháu Đ ở cùng chị và anh L cho đến nay. Nay ly hôn chị không đề nghị giải quyết gì về con riêng của chị.
Về tài sản: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Phúc L trình bày:
Anh nhất trí với lời trình bày của chị Y về thời gian đăng ký kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng một phần là do kinh tế gia đình khó khăn, phần lớn là do anh hay uống rượu bị say về nhà phát sinh mâu thuẫn với chị Y. Nay chị Y khởi kiện xin ly hôn, anh xác định mâu thuẫn vợ chồng xảy ra đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn nhưng anh xin được đoàn tụ để vợ chồng cùng nhau nuôi dạy các con.
Về nuôi con chung: Anh xác nhận lời trình bày của chị Y là đúng. Vợ chồng anh có một con chung là cháu Nguyễn Thị Hồng H, sinh ngày 23 tháng 9 năm 2014. Nếu phải ly hôn anh xin được nuôi cháu H và không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
Về tài sản: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định; người tham gia tố tụng chị Y, anh L đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Phúc L; giao con chung là Nguyễn Thị Hồng H, sinh ngày 23 tháng 9 năm 2014, cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng; chị Y không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh L do anh L không yêu cầu; về chia tài sản các đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Chị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Y khởi kiện yêu cầu xin được ly hôn anh Nguyễn Phúc L và đề nghị phân chia nuôi con chung, do đó đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn anh Nguyễn Phúc L hiện đang cư trú tại thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, theo qui định tại các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên.
[2] Về nội dung: Chị Nguyễn Thị Y và anh Nguyễn Phúc L đều thừa nhận vợ chồng anh, chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Y và anh L là hợp pháp. Trong những lần làm việc tại Toà án và tại phiên toà chị Y đều khẳng định tình cảm vợ chồng với anh L không còn, việc đoàn tụ là không thể, chị vẫn đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L, nếu Toà án không cho chị ly hôn thì chị cũng không thể về đoàn tụ với anh L được. Anh L không đồng ý ly hôn với chị Y nhưng không đưa ra được căn cứ để xin đoàn tụ; anh L cũng khẳng định quá trình chung sống, do luôn bất đồng quan điểm, mâu thuẫn vợ chồng xảy ra đã lâu mà nguyên nhân mâu thuẫn phần lớn là do anh không quan tâm đến gia đình, tình cảm vợ chồng không còn. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Y và anh L là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y.
Về nuôi con chung: Chị Y và anh L thống nhất vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Thị Hồng H, sinh ngày 23 tháng 9 năm 2014; quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyện vọng của anh L tha thiết xin được nuôi cháu H, chị Y đồng ý để anh L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu H vì hiện tại chị đang nuôi một con riêng do điều kiện chị khó khăn không thể nuôi được hai cháu. Xét nguyện vọng nuôi con chung của chị Y, anh L là phù hợp nên cần giao cháu H cho anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, chị Y không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh L nhưng có quyền nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở gây khó khăn.
Về tài sản: Chị Y và anh L không đề nghị Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét. Sau khi ly hôn, nếu các đương sự có đề nghị về tài sản thì Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo qui định của pháp luật.
3] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Y phải chịu theo qui định pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Phúc L.
Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Hồng H, sinh ngày 23 tháng 9 năm 2014 cho anh Nguyễn Phúc L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị Y không phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh L và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở, gây khó khăn.
Về tài sản: Không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số: AA/2016/0002379 ngày 19 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành dân sự huyện Bình Xuyên; chị Y đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND huyện Bình Xuyên;
(Đã ký)
- Chi cục THADS huyện Bình Xuyên;
Trần Thị Lan
- Các đương sự;
- Lưu: HS, VP.
Các hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Bình Xuyên; - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên; - Các đương sự; - Lưu: HS, VP. iều 34. Thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức 1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết. 2. Quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này là quyết định đã được ban hành về một vấn đề cụ thể và được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định này thì phải được Tòa án xem xét trong cùng một vụ việc dân sự đó. 3. Khi xem xét hủy quyết định quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án phải đưa cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền đã ban hành quyết định tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền đã ban hành quyết định phải tham gia tố tụng và trình bày ý kiến của mình về quyết định cá biệt bị Tòa án xem xét hủy. 4. Thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét việc hủy quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định tương ứng của Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Mục 2. THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN CÁC CẤP Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện 1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây: a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này; b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này; c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này. 2. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây: a) Yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ luật này; b) Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29 của Bộ luật này; c) Yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 31 của Bộ luật này; d) Yêu cầu về lao động quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 33 của Bộ luật này. 3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này. 4. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam. Các Hội thẩm nhân dân Nguyễn Đức Tiến Lê Thị Bích Thuần | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lan Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Lan |