vanban.org

Bản án 28/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hiền - Cần"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2017/DS-ST
Ngày: 17/7/2017
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Giảng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lý Thị Bé Năm.

2/ Bà Nguyễn Thị Thúy Vân.

Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Trí - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 17 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 68/2017/TLST-DS ngày 20/4/2017 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2017/QĐST-DS ngày 04/7/2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Thu H, sinh 1987.(có mặt)

Địa chỉ: 146A Nguyễn H, phường A, thành phố B, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Ông Võ Minh C, sinh năm 1991.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H, sinh 1965.(có mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã B, thị xã C, Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Đoàn Thị Thu H trình bày:

Bà và ông Võ Minh C là chỗ quen biết với nhau, vào ngày 03/4/2017 bà có cho ông C vay số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 năm, có làm hợp đồng vay, lãi suất do hai bên thỏa thuận miệng là 3%/tháng và 10 ngày trả lãi 01 lần. Kể từ khi vay tiền đến nay, ông C luôn né tránh bà và không trả lãi như hai bên thỏa thuận. Nay tôi yêu cầu Tòa án buộc ông Võ Minh C trả cho bà số tiền gốc đã vay là 200.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Trả làm 01 lần khi án có hiệu lực pháp luật.

* Bị đơn ông Võ Minh C, ủy quyền cho bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà thống nhất như lời trình bày của phía nguyên đơn, nhưng hiện tại ông C rất khó khăn về kinh tế phải đi làm thuê trả nợ. Theo yêu cầu khởi kiện của bà H, bà cũng đồng ý trả số tiền đã vay là 200.000.000 đồng nhưng xin cho ông C trả dần hàng tháng, mỗi tháng là 3.000.000 đồng cho đến khi hết số nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết :

Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu trả nợ đã vay là tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản, bị đơn có nơi cư trú tại thị xã Cai Lậy nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS), Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy có thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của các đương sự :

Bị đơn không có yêu cầu phản tố nên không xét.

- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền đã vay là 200.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy: Căn cứ vào lời trình bày và chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp thì việc cho vay giữa bà Đoàn Thị Thu H và ông Võ Minh C có làm hợp đồng, thời hạn vay là 01 năm từ ngày 03/4/2017, lãi suất do các bên thỏa thuận miệng là 3%/tháng và 10 ngày trả lãi 01 lần. Sau khi nhận tiền vay thì ông C không liên lạc và không thanh toán lãi cho bà H như thỏa thuận. Đại diện ủy quyền của bị đơn là bà H1 cũng thừa nhận như lời trình bày của nguyên đơn. Như vậy ông C đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi cho bà H theo thỏa thuận. Do đó, bà H yêu cầu ông C phải thanh toán tiền đã vay là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận và buộc ông C phải có trách nhiệm trả cho bà H khoản tiền đã vay là 200.000.000 đồng theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự.

- Về tiền lãi: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét.

- Về phương thức thanh toán: Do hai bên không thỏa thuận được phương thức thanh toán nên yêu cầu của bà H là có căn cứ nên chấp nhận, buộc ông C phải thanh toán làm 01 lần khi án có hiệu lực pháp luật.

- Về án phí: Ông Võ Minh C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 463, Điều 357 Bộ luật dân sự ;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Điều 26 của Luật thi hành án dân sự;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Buộc ông Võ Minh C trả cho bà Đoàn Thị Thu H số tiền là

200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng.

- Thời hạn thanh toán: 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án gửi cơ quan thi hành

án dân sự, mà ông C không thanh toán hoặc chậm thanh toán số tiền nêu trên thì hàng tháng, ông C còn phải trả cho bà H khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều

468 Bộ luật dân sự, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định

tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Võ Minh C phải chịu số tiền 10.000.000 đồng. Hoàn lại cho bà Đoàn Thị Thu H số tiền 5.085.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000713 ngày 20/4/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy.

4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nôi nhaän :

Cỡ chữ