vanban.org

Bản án 279/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "TÍN DỤNG"
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 279/2026/DS-ST
Ngày: 18/06/2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – CẦN THƠ

- Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

1.

Ông Tăng Giang Sơn

2.

Bà Lê Phạm Quế Chi

- Thư ký Tòa án: bà Phan Thị Như Ngọc – Thư ký

Ngày 18 tháng 06 năm 2026, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Khu vực 2 - Cần Thơ tiến hành xét xử công khai vụ án dân sự đã thụ lý số: 497/2025/TLST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 729/2026/QĐXX-ST ngày 25 tháng 05 năm 2026, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển N

Địa chỉ: Số 02 L, phường G, thành phố H

Địa chỉ liên hệ: Số 1000 đường Đ, KV10, phường Ô, Tp Cần Thơ

Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Toàn V

Người đại diện theo ủy quyền: ông Phan Chí H, ông Lâm Thời V(có mặt)

* Bị đơn: ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1987, CCCD: xxxxxxxxxxxx (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu vực T, phường P, Tp Cần Thơ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 10/10/2025, bản tự khai ngày 18/6/2026 và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Ntrình bày:

Ngày 26/8/2024, ông Nguyễn Hoàng T có ký kết Hợp đồng tín dụng số 1802LAV202401964 với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển N- Chi nhánh Ô Môn Cần Thơ để vay số tiền 250.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng. Các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn là 10%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Theo hợp đồng tín dụng, khoản vay được trả theo các kỳ hạn gồm: ngày 20/8/2025 trả số tiền gốc 47.000.000 đồng; ngày 20/8/2026 trả số tiền gốc 50.000.000 đồng; ngày 20/8/2027 trả số tiền gốc 50.000.000 đồng; ngày 20/8/2028 trả số tiền gốc 50.000.000 đồng và ngày 20/8/2029 trả số tiền gốc 53.000.000 đồng.

Sau khi ký kết hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân đầy đủ số tiền vay cho ông Nguyễn Hoàng T theo đúng thỏa thuận. Tuy nhiên, đến kỳ hạn thanh toán ngày 20/8/2025, ông T không thực hiện nghĩa vụ trả số tiền gốc đến hạn là 47.000.000 đồng. Kể từ ngày 21/8/2025, khoản nợ này bị chuyển quá hạn theo quy định của hợp đồng tín dụng.

Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện cho ông T thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông T vẫn không thanh toán đầy đủ khoản nợ vay.

Tính đến ngày 18/6/2026, ông Nguyễn Hoàng T còn nợ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Ntổng số tiền 274.713.260 đồng, gồm:

Nợ gốc: 237.100.000 đồng

Nợ lãi trong hạn: 35.662.438 đồng

Nợ lãi quá hạn: 1.950.822 đồng

Tổng cộng: 274.713.260 đồng

Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Hoàng T thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ nêu trên và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 1802LAV202401964 ngày 26/8/2024 kể từ ngày 19/6/2026 cho đến khi thanh toán dứt điểm toàn bộ khoản nợ.

Bị đơn ông Nguyễn Hoàng T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa,

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu Hội đồng xét xử buộc ông Nguyễn Hoàng T thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Ntổng số tiền còn nợ tính đến ngày 18/6/2026 là 274.713.260 đồng, gồm nợ gốc 237.100.000 đồng, lãi trong hạn 35.662.438 đồng và lãi quá hạn 1.950.822 đồng; đồng thời tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 1802LAV202401964 ngày 26/8/2024 kể từ ngày 19/6/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Bị đơn ông Nguyễn Hoàng T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán khoản nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng nên xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn cư trú tại khu vực Tân Bình, phường Phước Thới, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định pháp luật.

Về hợp đồng tín dụng:

Xét Hợp đồng tín dụng số 1802LAV202401964 ngày 26/8/2024 được ký kết giữa Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nvới ông Nguyễn Hoàng T trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện; các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp quy định của pháp luật nên có hiệu lực pháp luật và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.

Sau khi hợp đồng được ký kết, Ngân hàng đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giải ngân cho ông T số tiền 250.000.000 đồng theo thỏa thuận. Do đó, ông T có nghĩa vụ hoàn trả tiền gốc và tiền lãi theo đúng thời hạn đã cam kết.

Về vi phạm nghĩa vụ trả nợ:

Theo nội dung hợp đồng tín dụng, ngày 20/8/2025 ông Nguyễn Hoàng T phải thanh toán số tiền gốc đến hạn là 47.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên kể từ ngày 21/8/2025 khoản nợ này đã bị chuyển sang nợ quá hạn theo thỏa thuận giữa các bên.

Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, đôn đốc và tạo điều kiện để bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông T vẫn không thanh toán theo cam kết.

Theo bảng kê nợ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, tính đến ngày 18/6/2026 ông Nguyễn Hoàng T còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 274.713.260 đồng, gồm nợ gốc 237.100.000 đồng, lãi trong hạn 35.662.438 đồng và lãi quá hạn 1.950.822 đồng.

Bị đơn không có ý kiến phản đối, không cung cấp chứng cứ chứng minh đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

Về lãi phát sinh sau khi xét xử:

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Hoàng T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 1802LAV202401964 ngày 26/8/2024.

Về án phí:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên ông Nguyễn Hoàng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải thanh toán là 274.713.260 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu là 13.735.663 đồng.

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nđược nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.411.444 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0011057 ngày 29/11/2025.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào:

- Điều 26, khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 186, Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 235, Điều 244; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

* Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

Buộc ông Nguyễn Hoàng T thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nsố tiền còn nợ tính đến ngày 18/6/2026 là 274.713.260 đồng (Hai trăm bảy mươi bốn triệu bảy trăm mười ba nghìn hai trăm sáu mươi đồng, gồm nợ gốc: 237.100.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 35.662.438 đồng; nợ lãi quá hạn: 1.950.822 đồng)

Kể từ ngày 19/6/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, ông Nguyễn Hoàng T còn phải tiếp tục thanh toán khoản tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 1802LAV202401964 ngày 26/8/2024.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Hoàng T phải chịu 13.735.663 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nsố tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.411.444 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0011057 ngày 29/11/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

Cỡ chữ