vanban.org

Bản án 278/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Trương Thúy D và anh Nguyễn Văn T được ly hôn.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trương Duy P, sinh ngày 13/4/2020 (giới tính nam) cho chị D tiếp tục nuôi dạy. Chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng anh có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung phù hợp với quy định pháp luật, khô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trương Thúy D và anh Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Trương Thúy D và anh Nguyễn Văn T được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 278/2026/HNGĐ-ST
Ngày 17-8-2026
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Trâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quốc Văn

Bà Hồ Lệ Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Yến Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau. Ngày 17 tháng 8 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 414/2026/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2026 về việc Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 247/2026/QĐXX-ST ngày 13 tháng 7 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 266/2026/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thúy D, sinh năm 1995, có đơn xin vắng mặt CCCD: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 14/02/2025

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1995, vắng mặt

CMND: xxxxxxxxx cấp ngày 18/01/2016

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp A, xã T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 15/6/2026, chị Trương Thúy D trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Thừa tự N chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Cà Mau) vào ngày 08/8/2018. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi. Do đó, chị D yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Thời gian chung sống chị và anh T có 01 người con chung là Nguyễn Trương Duy P, sinh ngày 13/4/2020, hiện đang sống với chị D. Khi ly hôn chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu P, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận. Nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Chị Trương Thúy D khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Do anh chị chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; anh T có địa chỉ tại ấp A, xã T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Chị D có đơn xin xét xử vằng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị D, anh T theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị D và anh Thừa tự N chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Cà Mau) vào ngày 08/8/2018. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Tại vụ án chị D yêu cầu ly hôn với anh T. Xét thấy, yêu cầu của chị D là có cơ sở. Bởi vì, thời gian chung sống anh chị có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi nhau. Mặt khác, Tòa án có tổ chức hòa giải để anh chị có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do anh T vắng mặt tại lần hòa giải không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị Trương Thúy D và anh Nguyễn Văn T được ly hôn.

Về con chung: Thời gian chung sống chị và anh T có 01 người con chung là Nguyễn Trương Duy P, sinh ngày 13/4/2020 (giới tính nam), hiện đang sống với chị D. Khi ly hôn chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu P. Xét thấy, yêu cầu của chị D là có cơ sở. Bởi vì, cháu P đang do chị D nuôi dạy, việc hoán đổi nuôi con sẽ làm ảnh hưởng đến tình cảm của cháu. Mặt khác, anh T cũng không có ý kiến gì về con chung. Do đó, cần tiếp tục giao cháu P cho chị D nuôi dạy là phù hợp theo quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị D không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung, đối với nợ chung chị D xác định chị và anh T không có nợ chung, không ai yêu cầu giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trương Thúy D phải chịu án phí theo Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chị Trương Thúy D và anh Nguyễn Văn T được ly hôn.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trương Duy P, sinh ngày 13/4/2020 (giới tính nam) cho chị D tiếp tục nuôi dạy. Chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Anh T không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng anh có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 18 tháng 6 năm 2026 chị D có nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0008150 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Cà Mau được chuyển thu án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị D, anh T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Cỡ chữ