vanban.org

Bản án 278/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 19/12/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Mai H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo H 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 07 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15 (mười lăm) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn THị Mai Hương - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Mai H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
Bản án số: 278/2025/HSST
Ngày: 19/12/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thu Hà

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khanh

Bà Nguyễn Thị Cúc

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng – Thư ký Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Bùi Bách Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, Toà án nhân dân khu vực 5 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 250/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 269/2025/QĐXXST-HS ngày 25/11/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 59/2025/QĐST-HPT ngày 10/12/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên:

Nguyễn Thị Mai H -

Giới tính: Nữ

Tên gọi khác:

Không

Sinh năm 1986: Tại: Phú Thọ

HKTT: Tổ 7, phường Phúc Yên, tỉnh Phú Thọ.

Nơi ở hiện tại: Định Công, phường Định Công, TP. Hà Nội.

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Tự do

Trình độ học vấn: 12/12.

Họ tên bố: Nguyễn Hoàng Đ – Đã chết

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị A

Chồng: Nguyễn Quốc H - sinh năm 1982 (đã ly hôn)

Có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Bản án số 138/2011/HSST ngày 28/4/2011, Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, Hà Nội xử phạt Nguyễn Thị Mai H 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (Đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt giữ ngày 10/7/2025, tạm giam từ 19/7/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an Thành phố Hà Nội.

2. Họ và tên:

Nguyễn Anh D Giới tính: Nam

Tên gọi khác:

Không

Sinh năm 1984: Tại: Hà Nội

Nơi thường trú và nơi ở: tập thể Trần Hưng Đạo, phường Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội.

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Tự do

Trình độ học vấn: 12/12.

Họ tên bố: Nguyễn Hoàng H – Đã chết

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Kim T

Có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị bắt giữ ngày 10/7/2025, tạm giam từ 19/7/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an Thành phố Hà Nội.

3. Họ và tên:

Trần Quân T

- Giới tính: Nam

Tên gọi khác:

Không

Sinh năm 1994: Tại: Hà Nội

Nơi thường trú: Ngọc Lâm, phường Bồ Đề, TP. Hà Nội.

Nơi ở hiện tại: tập thể xăng dầu KV1 tổ 18 phường Việt Hưng, TP. Hà Nội.

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Tự do

Trình độ học vấn: 12/12.

Họ tên bố: Trần Trọng Q – Sinh năm 1969

Họ tên mẹ: Trần Thị H - Đã chết

Vợ: Lê Thị P H A – Sinh năm 1998

Có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Năm 2010, bị Công an huyện Gia Lâm xử phạt cảnh cáo về hành vi Cố ý gây t H tích.

- Bản án số 68/2022/HS-ST ngày 11/8/2022, TAND huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản. (Đã xóa án tích).

Bị cáo bị bắt giữ ngày 10/7/2025, tạm giam từ 19/7/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an Thành phố Hà Nội.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Bùi Xuân V, sinh năm 1984

Địa chỉ: Xóm Mới, xã Nam Phù, TP. Hà Nội

Anh Trương Bảo L, sinh năm 1983

Địa chỉ: số 54, ngõ 276 phố Đại Từ, phường Đại Kim, TP. Hà Nội

(Anh V, anh L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02h30’ ngày 10/7/2025, tổ công tác Công an phường L Biên, Hà Nội làm nhiệm vụ tại ngõ 81 phố Trạm thuộc phường L Biên, phát hiện một nam thanh niên đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy, không xuất trình được giấy tờ tùy thân và khai tên Nguyễn Anh D. Tổ công tác đã lập biên bản và đưa về trụ sở giải quyết. Kết quả xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Nguyễn Anh D thể hiện dương tính với chất ma túy.

Tạm giữ của Nguyễn Anh D 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy A15 màu xanh đen. Kiểm tra điện thoại của D phát hiện nội dung tin nhắn với nick facebook “Tín Trần”, với nick zalo “ T Trần”, “Vệt Nắng Cuối Trời” liên quan đến sử dụng ma túy.

T hành triệu tập Trần Quân T, T đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan Công an:

- 01 túi nilon trong chứa tinh thể màu trắng;

- 02 túi nilon dính tỉnh thể màu trắng;

- 01 túi nilon trong chứa chất bột màu hồng;

- 01 cóng thủy tinh dùng để sử dụng ma túy đá;

- 01 bật lửa.

- 01 điện thoại di động Oppo A9 màu đen đã qua sử dụng, gắn SIM 0963324442.

Tại Kết luận giám định số 4019/KL-KTHS ngày 19/7/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,142 gam;

- Chất bột màu hồng bên trong 01 túi nilon màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,022 gam;

- 02 túi nilon màu trắng và 01 coóng thủy tinh đều có dính ma túy loại Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Anh D và Trần Quân T khai nhận: Vào tối ngày 09/7/2025, khi D đang ở nhà thì Trần Quân T, nhắn tin ZALO với nội dung bảo D lấy đồ (tức là mua ma túy đá), mang sang nhà T để cả hai cùng nhau sử dụng. Do D và T trước đây đã có vài lần sử dụng ma túy đá ở nhà T cùng nhau, T hỏi giá bao nhiêu thì D nói là 700.000 đồng được "nửa gờ". T đồng ý và chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng cho D 700.000 đồng để mua ma túy đá. Khi nhận được tiền, D nhắn tin cho Nguyễn Thị Mai H thông qua tài khoản ZALO là "Vệt nắng cuối trời" để hỏi mua ma túy thì H đồng ý và gửi mã QR để thanh toán. D chuyển khoản cho H 700.000 đồng. Sau khi chuyển tiền, khoảng 40 phút sau có 01 người xe ôm công nghệ mang 01 chiếc quần để trong túi nilon đến cổng nhà giao cho D và D chuyển khoản trả tiền xe ôm hết khoảng 35.000 đồng. Sau đó D mang túi vào nhà bóc ra thì thấy bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa ma túy đá nên đã cất túi ma túy vào túi quần phía trước bên phải và mang theo Coóng thủy tinh đi xe ôm sang nhà T đề cùng sử dụng ma túy. Khoảng 22h D đến nhà T, thì có T ở nhà còn vợ con T đã đi ngủ ở phòng khác nên không biết D đến sử dụng ma túy với T, D liền đưa túi ma túy cho T và cả 2 cùng nhau sử dụng một phần ma túy ở phòng ngủ của T được một lúc thì D có việc đi tìm bạn ở phố Trạm, L Biên và sẽ quay trở lại nhà T sử dụng hết ma túy, còn T vẫn ở nhà. Khi đi đến phố Trạm thì D bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ.

Khai thác mở rộng vụ án, khoảng 5h ngày 10/07/2025 tại Định Công, phường Định Công, Hà Nội, cơ quan Công an kiểm tra Nguyễn Thị Mai H, khi đó trong phòng có 02 đối tượng là Trương Bảo L- Sinh năm: 1983; nơi thường trú: 13 Ngô Tức Mạc, phường Cửa Nam, Hà Nội và Bùi Xuân V- Sinh năm: 1984; nơi thường trú: TT Viện địa chất khoáng sản, phường Thanh Liệt, Hà Nội. Tại đây H, L và V đều khai nhận trước đó có sử dụng ma túy ở trong phòng, cơ quan Công an đã đưa cả 3 đối tượng về trụ sở để làm rõ. Thu giữ của Bùi Xuân V: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M32 màu đen đã qua sử dụng; thu giữ của Trương Bảo L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu đen đã qua sử dụng; thu giữ của Nguyễn Thị Mai H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi redmi 13, đã qua sử dụng. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Mai H tại Định Công, Hà Nội thu giữ: 02 túi nilon trong chứa tinh thể màu trắng, 01 vỏ túi ni lông màu trắng, 01 bộ tấu hút tự tạo.

Tại Kết luận giám định số 4020/KL-KTHS ngày 19/7/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

- Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon màu trắng đều là ma túy loại

methamphetamine, tổng khối lượng 0,643 gam;

- 01 vỏ túi nilon màu trắng có dính ma túy loại Methamphetamine;

- 01 bộ tẩu hút tự tạo có dính ma túy loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra làm rõ: Do bản thân không có nghề nghiệp ổn định, nên từ đầu tháng 5/2025, Nguyễn Thị Mai H tìm trên mạng Internet mua ma túy về để bán kiếm lợi và sử dụng cho bản thân (mỗi lần mua xong, H đều xóa toàn bộ nội dung tin nhắn nên không nhớ tài khoản nào), người bán gửi xe ôm cho H. Sau đó, H trả tiền mặt. H mang ma túy đá về sử dụng một phần, còn lại để bán kiếm lợi. Ngày 27/5/2025, Ngô Thị Huyền T 1- Sinh năm 1995, HKTT: thôn Trung Bình, xã Dương Nội, Hà Nội hỏi Nguyễn Anh D có biết chỗ nào bán ma túy đá không, D nói có, sau đó D sử dụng Zalo nhắn tin liên hệ với Zalo của H "Vệt nắng cuối trời" là có đứa em muốn mua 500.000 đồng ma túy đá, H đồng ý. Sau đó H gửi mã QR ngân hàng của H qua Zalo cho D. D gửi lại mã QR ngân hàng cho T1, T1 sử dụng tài khoản ngân hàng Techcombank: 10972331015018 chuyển 500.000 đồng tiền mua ma túy đến tài khoản ngân hàng Techcombank 107003342930 của H. Sau khi chuyển tiền cho H, T1 chụp ảnh màn hình điện thoại giao dịch chuyển khoản rồi gửi cho D. Sau đó D chuyển tiếp hình ảnh chuyển khoản cho H. Sau khi nhận được tiền, H gửi xe ôm Ship ma túy đá cho T1. Tiếp đó, D gửi số điện thoại của T1 số 0986638894 (nick zalo: Mẹ trẻ đốp) cho qua Zalo cho H (nhưng H chưa kết bạn zalo với T1 vì chưa tin tưởng). Đến ngày 30/5/2025, T1 liên lạc qua Zalo D, nhờ D hỏi H hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá. H đồng ý, sau đó T1 sử dụng tài khoản ngân hàng Techcombank: 10972331015018 chuyển 500.000 đồng tiền mua ma túy đến tài khoản ngân hàng Techcombank 107003342930 của H. Sau khi chuyển tiền cho H, T1 chụp ảnh màn hình điện thoại giao dịch chuyển khoản và gửi cho D. Sau đó D chuyển tiếp hình ảnh chuyển khoản cho H. Sau khi H nhận được tiền, H gửi xe ôm đến khu vực Định Công cho T1 ( T1 không nhớ điểm nhận hàng do thời gian hẹn Ship ngắn và vội nên T1 không nhớ địa điểm). T1 đã một mình sử dụng hết số ma túy mua của H. Cả hai lần mua ma túy này T1 đều liên hệ qua D để mua của H. Đến đầu tháng 7/2025, H lên trên mạng tìm mua 1.500.000 đồng ma túy đá, người bán gửi xe ôm đến cho H, H trả bằng tiền mặt. H lấy một phần ma túy cho vào Coóng sử dụng, số ma túy còn lại H để bản kiếm lời khi có khách hỏi mua. Khoảng 20h00, ngày 04/07/2025, D có nhắn tin Zalo cho H hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá. H bảo D qua lấy nhưng D nói chuyển Ship sang cho D. H đồng ý và nhắn cho D số tài khoản: 42394767, Ngân hàng ACB của H và bảo D chuyển tiền vào tài khoản. Khoảng 05 phút sau H nhận được số tiền trên do D chuyển vào tài khoản của H, H hỏi D Ship đến đâu thì D nhắn chuyển đến địa chỉ: Tập thể nhà máy cơ khí. Sau đó, H bảo D gửi H số điện thoại để H đặt Grab chuyển đến. Sau đó, H gọi Ship hàng của hãng Xanh SM. H để túi ni lông chứa ma túy đá vào trong túi quần áo đưa cho Ship và cho địa chỉ giao hàng. Khoảng gần 22h00 thì D báo đã nhận được ma túy. D đã sử dụng một mình hết số ma túy của H. Chiều tối ngày 09/7/2025, Trần Quân T nhắn tin qua Zalo với D hỏi bảo D lấy đồ (ma túy), mang sang nhà T để cả hai cùng sử dụng. T hỏi giá bao nhiêu thì D nói là 700.000 đồng được "nửa gờ", D và T thống nhất sẽ sử dụng hết số ma túy mua được. Sau đó, T sử dụng tài khoản ngân hàng chuyển tiền đến số tài khoản ngân hàng của D. khoảng 18h00, ngày 09/7/2025, D sử dụng zalo của D liên lạc vào zalo “Vệt nắng cuối trời" hỏi mua của H ma túy đá, H báo giá 700.000 đồng và yêu cầu D chuyển vào số tài khoản: 42394767, Ngân hàng ACB. Sau đó, D chuyển 700.000 đồng vào tài khoản của H và bảo sẽ có Ship đến để nhận ma túy. Sau đó, H cho D địa chỉ phòng trọ của H tại Định Công. Khoảng 30 phút sau có một người đàn ông gọi cho H là đến nhận hàng Ship, H để túi ni lông chứa ma túy đá vào trong túi quần áo và buộc túi quần áo lại đưa cho người đàn ông đến nhận Ship. Khoảng nửa tiếng sau thì D nhắn tin lại cho H là "Ok" xác nhận với H là đã nhận được ma túy. Sau khi nhận được ma túy, D cất vào túi quần bên phải, và mang theo coóng sang nhà T. Khi đến nhà T, D đưa ma túy và Coóng cho T, sau đó D và T cùng sử dụng. Khi đang sử dụng ma túy thì D đi ra ngoài tìm bạn. Còn T vẫn ở nhà, khi D đi đến khu vực phố Trạm, phường L Biên thì bị cơ quan Công an kiểm tra bắt giữ.

Sáng ngày 09/07/2025, L (là bạn bè xã hội, có quan hệ tình cảm với H) đến phòng trọ của H chơi và ăn nghỉ tại đó. Đến khoảng 20h cùng ngày L thấy bộ tẩu hút tự tạo H để trên bàn bên trong đã có sẵn ma túy đá L đốt hút sử dụng, sau đó để coong xuống bàn, H tự lấy đốt để sử dụng bằng hình thức hút. Đến khoảng 23h30 cùng ngày, V (là bạn xã hội) đến phòng trọ của H, thấy H, L đang sử dụng ma túy nên vào sử dụng ma túy cùng. V tự lây coong đốt hút. Đến khoảng 0h15 phút ngày 10/07/2025 cả 3 người không sử dụng ma túy nữa, V lên gác ngủ, L và H ngủ ở dưới. Khi L, V và H đang ngủ thì cơ quan Công an đến triệu tập đưa về trụ sở làm rõ. Lời khai của các đối tượng phù hợp với nhau và tài liệu, chứng cứ thu thập được.

Cơ quan điều tra đã triệu tập Ngô Thị Huyền T1- Sinh năm 1995, HKTT: thôn Trung Bình, xã Dương Nội, Hà Nội đến làm việc. Tại cơ quan điều tra, Ngô Thị Huyền T1 khai nhận phù hợp với lời khai của Nguyễn Anh D và Nguyễn Thị Mai H, mục đích T1 mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Kết quả thử nước tiểu của T1 cho phản ứng âm tính với ma túy.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu các đối tượng H, D, T, L và V kết quả đều dương tính với chất ma túy.

Cáo trạng số: 32/CT-VKSKV5 ngày 24/11/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội đã truy tố Nguyễn Thị Mai H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Nguyễn Anh D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự; Trần Quân T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận như trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra thấy rằng: hành vi của Nguyễn Thị Mai H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Nguyễn Anh D phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự; Trần Quân T phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 điều 251, điểm b khoản 2 điều 255, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38, điều 17, điều 58, điều 55 Bộ luật hình sự đối với bị cáo H.

Xử phạt bị cáo H từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cả hai tội từ 15 năm 06 tháng đến 16 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm b khoản 2 điều 251, khoản 1 điều 255, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38, điều 17, điều 58, điều 55 Bộ luật hình sự đối với bị cáo D.

Xử phạt bị cáo D từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cả hai tội từ 10 năm đến 11 năm tù.

Áp dụng khoản 1 điều 255, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38, điều 17, điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T.

Xử phạt bị cáo T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Đề nghị tịch thu tiêu huỷ số ma tuý đã thu giữ, 01 bật lửa khò màu đen, 01 cóng thủy tinh.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước điện thoại đã thu giữ của các bị cáo H, D, điện thoại Oppo A9 của bị cáo T. Trả lại anh L và anh V điện thoại do không liên quan đến vụ án. Trả lại bị cáo T 01 điện thoại Samsung A03S hỏng màn hình (bật không lên).

Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng) thu lời bất chính của bị cáo Nguyễn Thị Mai H.

Nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về tội danh:

Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Thông qua sự giới thiệu, kết nối của Nguyễn Anh D để Ngô Thị Thu T1 mua ma túy của Nguyễn Thị Mai H, bị cáo Nguyễn Thị Mai H đã có hành vi bán ma túy 02 lần với giá 500.000 đồng/01 lần cho Ngô Thị Thu T1 vào các ngày 27/5/2025, 30/5/2025. Ngoài ra, Nguyễn Thị Mai H đã bán trót lọt 02 lần ma túy cho Nguyễn Anh D các ngày 04/9/2025 và ngày 07/9/2025 với mục đích để kiếm lời.

Ngày 09/7/2025, tại Định Công, phường Định Công, Hà Nội, bị cáo Nguyễn Thị Mai H đã có hành vi cất giấu 0,643 gam ma túy Methamphetamine mục đích sử dụng cho bản thân và bán kiếm lợi và đã có hành vi cung cấp địa điểm là nơi ở (nhà trọ), dụng cụ (coóng), ma túy để tổ chức cho Bùi Xuân V, Trương Bảo L cùng H sử dụng ma túy.

Ngày 09/7/2025, các bị cáo Trần Quân T và Nguyễn Anh D đã có hành vi tổ chức sử dụng ma túy tại nhà của T ở Khu tập thể Xăng dầu Đức Giang, phường Việt Hưng, Hà Nội. Thu giữ tại nhà của T số ma túy còn lại 0,164 gam ma túy Methamphetamine chưa sử dụng hết.

Hành vi của Nguyễn Thị Mai H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Nguyễn Anh D phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự; Trần Quân T phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Do vậy, cần xử lý nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người nghiện ma túy. Bị cáo H là người chủ mưu và thực hành tích cực trong việc bán ma túy cho T1 và D và tổ chức cho V, L sử dụng ma túy nên bị cáo phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo D.

Bị cáo T và bị cáo D có vai trò ngang nhau trong việc tổ chức sử dụng chất ma túy; các bị cáo phạm tội hình thức giản đơn, để thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy; các bị cáo còn con nhỏ, cần gánh vác trách nhiệm với bố mẹ già và gia đình nên HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo tập trung cải tạo, sớm được trở về chăm sóc bố mẹ và gia đình.

Về hình phạt bổ sung:

Xét các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý đã thu giữ là vật nhà nước cấm lưu hành, 01 bật lửa khò màu đen, 01 cóng thủy tinh là công cụ p H tiện phạm tội.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước điện thoại đã thu giữ của các bị cáo H, D, điện thoại Oppo A9 của bị cáo T. Trả lại anh L và anh V điện thoại do không liên quan đến vụ án. Trả lại bị cáo T 01 điện thoại Samsung A03S hỏng màn hình (bật không lên).

Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng) thu lời bất chính của bị cáo Nguyễn Thị Mai H.

Đại diện VKS đề nghị về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX.

Về vấn đề khác:

Đối với người bán ma túy cho Nguyễn Thị Mai H: Quá trình điều tra xác định H tìm mua ma túy trên mạng xã hội facebook (do mỗi lần mua xong H đều xóa toàn bộ tin nhắn nên không nhớ mua từ tài khoản facebook nào) không rõ nhân thân, lai lịch của người bán ma túy nên cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ, xử lý.

Đối với người xe ôm giao ma túy cho Nguyễn Thị Mai H: Quá trình điều tra xác định khi giao ma túy, H không nói hàng bên trong là ma túy nên người lái xe ôm không biết, vì vậy cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ, xử lý.

Đối với người xe ôm đến nhận ma túy từ Nguyễn Thị Mai H giao cho Nguyễn Anh D: Quá trình điều tra xác định D không nói cho người này biết đi lấy hàng là ma túy đồng thời khi giao ma túy, H không nói hàng bên trong là ma túy nên người lái xe ôm không biết, vì vậy cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ, xử lý.

Đối với số lượng 0,164 gam ma túy Methamphetamine thu giữ của Trần Quân T, quá trình điều tra, cả T và D đều khai nhận sử dụng một phần ma túy ở phòng ngủ của T được một lúc thì D có việc đi tìm bạn ở phố Trạm, L Biên rồi sẽ quay trở lại nhà T sử dụng hết số ma túy còn lại. Do vậy, trong vụ án trên không có căn cứ xem xét xử lý hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy đối với D và T.

Đối với Trương Bảo L và Bùi Xuân V không bàn bạc việc sử dụng ma tuý với H, không rõ nguồn gốc ma tuý do đâu H có. Hành vi của Trương Bảo L và Bùi Xuân Vũng không có dấu hiệu tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Quá trình điều tra, L và V không thuộc các diện quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự. Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Trương Bảo L và Bùi Xuân V đã vi phạm quy định tại Khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội nên Cơ quan công an ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trương Bảo L và Bùi Xuân V là có căn cứ.

Đối với Ngô Thị Huyền T1, khai nhận thông qua D đã mua 02 lần ma túy của H vào các ngày 27/5/2025 và 30/5/2025, sau đó đã sử dụng một mình hết. Ngày 25/9/2025, Cơ quan điều tra đã xét nghiệm nước tiểu của T1, kế quả thử nước tiểu cho phản ứng âm tính với ma túy. Qua xác minh tại Công an phường Dương Nội, T1 không thuộc các diện quy định tại Điều 256a BLHS. Vì vậy không có căn cứ để xem xét xử lý hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với bà Nguyễn Thị H1 (là chủ nhà trọ nơi Nguyễn Thị Mai H thuê phòng), quá trình điều tra xác định bà H1 không biết H có liên quan đến ma túy, do đó không có căn cứ để xử lý đối với bà H1.

Về án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định

Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần quyết định của bản án liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 điều 251, điểm b khoản 2 điều 255, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38, điều 17, điều 58, điều 55 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Mai H.

Căn cứ điểm b khoản 2 điều 251, khoản 1 điều 255, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38, điều 17, điều 58, điều 55 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Anh D.

Căn cứ khoản 1 điều 255, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38, điều 17, điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Quân T.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Mai H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo H 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 07 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15 (mười lăm) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 10/7/2025.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo D 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 03 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 10 (mười) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 10/7/2025.

Tuyên bố bị cáo Trần Quân T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo T 03 (ba) năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng

Cho tịch thu, tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có: 01 (một) túi nilon trong chứa tỉnh thể màu trắng là methamphetamine; 02 (hai) túi nilon trong còn dính tỉnh thể màu trắng là methamphetamine; 01 (một) túi nilon trong chứa chất bột màu hồng là methamphetamin; 01 (một) cóng thủy tinh dính methamphetamine còn nguyên vẹn niêm phong được dán kín các mép có chữ ký của giám định viên- Trần Huy Vũ, công an phường L Biên – Đỗ Quyết Chiến, đối tượng – Trần Quân T (theo bản kết luận giám định số 4091/KL-KTHS ngày 19 tháng 07 năm 2025 của phòng Kỹ thuật hình sự-CATP Hà Nội).

- 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có: 02 túi ni lông bên trong chứa ma tuý Methamphetamine; 01 (một) vỏ túi ni lông bên trong dính ma tuý Methamphetamine; 01 (một) bộ tẩu hút tự tạo dính ma tuý loại Methamphetamine còn nguyên vẹn niêm phong được dán kín các mép có chữ ký của giám định viên-Trần Huy Vũ, công an phường L Biên – Nguyễn Xuân Mạnh, đối tượng – Nguyễn Thị Mai H (theo bản kết luận giám định số 4020/KL-KTHS ngày 19 tháng 07 năm 2025 của phòng Kỹ thuật hình sự-CATP Hà Nội).

- 01 (một) chiếc bật lửa khò màu đen đã qua sử dụng, không kiểm tra chỉ tiết bên trong của Trần Quân T được cho vào phong bì niêm phong có dấu đó của cơ quan cảnh sát điều tra và Điều tra viên Nguyễn T D.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15 màu xanh đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong của Nguyễn Anh D được cho vào phong bì niêm phong có dấu đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra và Điều tra viên Nguyễn T D.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A9 màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chỉ tiết bên trong của Trần Quân T được cho vào phong bì niêm phong có dấu đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra và Điều tra viên Nguyễn T D.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi redmi 13, màu hồng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong của Nguyễn Thị Mai H được cho vào phong bì niêm phong có dấu đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra và Điều tra viên Nguyễn T D.

Trả lại: Trương Bảo L: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong của Trương Bảo L được cho vào phong bì niêm phong có dấu đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra và Điều tra viên Nguyễn T D.

Trả lại Bùi Xuân V 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy M32 màu trắng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chỉ tiết bên trong của Bùi Xuân V được cho vào phong bì niêm phong có dấu đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra và Điều tra viên Nguyễn T D.

Trả lại bị cáo Trần Quân T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu samsung A03S, màu xanh, đã qua sử dụng, hỏng màn hình (bật không lên), không kiểm tra chi tiết bên trong của Trần Quân T được cho vào phong bì niêm phong có dấu đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra và Điều tra viên Nguyễn T D.

(hiện có tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/12/2025)

Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng) thu lời bất chính của bị cáo Nguyễn Thị Mai H.

3. Về án phí:

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ