- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn thị thu thảo - Fan kao Yuan"
- Tòa quyết gì? Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 278/2023/HNGĐ-ST Ngày: 9/3/2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Nhanh
Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thoa – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Xuân Hồng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số 103/2022/TLST-HNGĐ ngày 16/3/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18/01/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1047/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15/02/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, 1984
Địa chỉ thường trú: Nguyễn Đình Chiểu, Phường N, Thành phố H; Địa chỉ liên hệ: Chung cư H, 928 L, xã P, huyện N, Thành phố H.
Bị đơn: Ông Fan Kao Yuan, sinh năm 1976
Địa chỉ: Số 297/87 đoạn 2, lộ Trung Hưng Khóm 023, phường Tam Trùng, thị trấn Trúc Đông, huyện Tân Trúc, Đài Loan.
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T trình bày:
Bà và ông Fan Kao Yuan tự nguyện kết hôn vào năm 2004 theo giấy chứng nhận kết hôn số 3866, do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp vào ngày 31/12/2004.
Sau khi kết hôn bà và ông Fan Kao Yuan sang Đài Loan sinh sống, trong qúa trình sinh sống hai bên thường xuyên xảy ra cãi vã mâu thuẫn do bất đồng văn hóa, ngôn ngữ. Hai bên đã nhiều lần cố gắng hòa giải để duy trì hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả. Đến năm 2017 bà quay trở về Việt Nam sinh sống và làm việc, ông Fan Kao Yuan sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Từ khi bà về Việt Nam hai bên ít liên lạc với nhau. Bà không quay trở lại Đài Loan, ông Fan Kao Yuan không về Việt Nam thăm bà. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Hiện giữa bà và ông Fan Kao Yuan không còn liên lạc và cũng không quan tâm đến đời sống của nhau. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Fan Kao Yuan để có điều kiện ổn định cuộc sống. Về con chung: Bà và ông Fan Kao Yuan có hai con chung tên Fan Shih Yang, sinh ngày 02/11/2005 và Fan Ting Kai, sinh ngày 08/11/2012, hiện nay hai trẻ đang ở chung với ông Fan Kao Yuan tại Đài Loan. Sau khi ly hôn bà đồng ý giao 02 con chung cho ông Fan Kao Yuan trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có Về nợ chung: Không có. Tòa án không thể tiến hành hòa giải đoàn tụ được vì ông Fan Kao Yuan đang cư trú tại Đài Loan. Tại phiên tòa sơ thẩm, Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Fan Kao Yuan đều vắng mặt. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các đương sự vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T, cho bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với ông Fan Kao Yuan; Về con chung: Giao hai con chung tên Fan Shih Yang, sinh ngày 02/11/2005 và Fan Ting Kai, sinh ngày 08/11/2012 cho ông Fan Kao Yuan trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, bà Nguyễn Thị Thu T không cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung: Bà T khai không có nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Thu T đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh có đơn xin ly hôn với ông Fan Kao Yuan hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 28, Điều 37, Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà Nguyễn Thị Thu T tham gia phiên tòa lần thứ nhất vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 15/02/2023, lần hai vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 09/3/2023 nhưng bà Nguyễn Thị Thu T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Đối với ông Fan Kao Yuan, Tòa án đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày giờ mở phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 103/TB-TLVA ngày 16/3/2022 cho ông Fan Kao Yuan theo Công văn số 285/TTTPDS-TA30 ngày 09/5/2022 đề nghị tống đạt văn bản trên cho ông Fan Kao Yuan theo quy định của pháp luật. Theo Công văn số 1790/CH-BTP ngày 10/6/2022 của Bộ Tư pháp thì Bộ Tư pháp đã chuyển hồ sơ ủy thác nêu trên cho Bộ Tư pháp Lãnh thổ Đài Loan. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được văn bản số 2859/BTP-PLQT ngày 3/11/2022 thông báo về kết quả ủy thác tư pháp cho ông Fan Kao Yuan như sau: Chuyển cho người sống chung cùng đương sự ngày 06/9/2022.
Tuy nhiên, đến nay không thấy ông Fan Kao Yuan có thông tin phản hồi. Tòa án đã mở phiên tòa xét xử vụ án lần thứ nhất vào lúc 8 giờ 00 phút ngày 15/02/2023 nhưng do ông Fan Kao Yuan vắng mặt nên phải hoãn phiên tòa, đồng thời ấn định thời gian mở lại phiên tòa xét xử vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 09/3/2023. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay ông Fan Kao Yuan vẫn tiếp tục vắng mặt không rõ lý do.
Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 3866, do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp vào ngày 31/12/2004 thì quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị Thu T và ông Fan Kao Yuan là hợp pháp.
Theo nguyên đơn trình bày, sau khi kết hôn hai bên sang Đài Loan sinh sống, trong quá trình sinh sống thường xuyên xảy ra cãi vã mâu thuẫn do bất đồng văn hóa, ngôn ngữ. Cả hai đã nhiều lần cố gắng hòa giải để duy trì hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả. Đến năm 2017 bà Nguyễn Thị Thu T quay trở về Việt Nam sinh sống và làm việc, ông Fan Kao Yuan sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Từ khi bà T về Việt Nam thì ít liên lạc với nhau. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2017, không còn liên lạc cũng như không quan tâm đến đời sống của nhau. Nay bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông Fan Kao Yuan. Về phía ông Fan Kao Yuan, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp và thông báo ngày giờ mở phiên tòa xét xử cho ông Fan Kao Yuan theo quy định pháp luật văn bản thông báo của Tòa án đã được chuyển cho người chung sống cùng ông vào ngày 06/9/02022 nhưng đến nay ông không có phản hồi, cũng không có mặt tại phiên tòa. Điều này chứng tỏ ông Fan Kao Yuan không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa.
Xét thấy mục đích hôn nhân chỉ có thể đạt được khi vợ chồng thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau. Đây cũng là tình cảm và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau và được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nay bà Nguyễn Thị Thu T xác định tình cảm giữa bà T và ông Fan kao Yuan không còn, cũng không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do đó bà Nguyễn Thị Thu T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với ông Fan Kao Yuan là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thu T khai bà và ông Fan Kao Yuan có hai con chung tên Fan Shih Yang, sinh ngày 02/11/2005 và Fan Ting Kai, sinh ngày 08/11/2012, hiện nay hai trẻ đang ở chung với ông Fan Kao Yuan tại Đài Loan. Sau khi ly hôn bà đồng ý giao 02 con chung cho ông Fan Kao Yuan trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thu T xác định, bà không cấp dưỡng nuôi con, ông Fan Kao Yuan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng không có ý kiến phản hồi cho Tòa án, trong đó bao gồm cả việc cấp dưỡng nuôi con nên không xét Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu T khai không có nên không xét. [4] Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu theo quy định của pháp luật. [5] Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Fan Kao Yuan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; các Điều 40, 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 ; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết 326/2016.UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ luật Thi hành án dân sự 2008 đã sửa đổi, bổ sung năm 2014. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T. 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với ông Fan Kao Yuan. 2. Về con chung: Giao hai con chung tên Fan Shih Yang, sinh ngày 02/11/2005 và Fan Ting Kai, sinh ngày 08/11/2012 cho cha là ông Fan Kao Yuan trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà Nguyễn Thị Thu T không cấp dưỡng nuôi con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí: Án phí DSST về việc ly hôn 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Nguyễn Thị Thu T phải nộp được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2021/0001745 ngày 04 tháng 3 năm 2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Thu T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thu T được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Ông Fan Kao Yuan có quyền kháng cáo trong hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TPHCM; - Cục THA dân sự TP.HCM; - UBND TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu: Hs, Vp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Phương |