- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị V với Nguyễn Hoàng T"
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án: 278/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29/12/2023 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Trí
2. Bà Nguyễn Thị Ly
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Không tham gia.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 608/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp“Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 561/2023/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 654/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị V, sinh năm 1997; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, (có đơn xin xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1993; địa chỉ: ấp T, xã A, huyện C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Y trình bày: bà và ông Nguyễn Hoàng Th quen biết, tìm hiểu, tiến đến hôn nhân, vợ chồng có tổ chức lễ cưới từ năm 2016 và đăng ký kết hôn theo quy định vào ngày 28/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Thời gian chung sống được khoảng cuối năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn chung sống với nhau khoảng 03 năm nay. Nhận thấy tình cảm không còn, nay bà Lê Thị V yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hoàng T.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 09/7/2020, hiện nay đang sống chung với bà V, sau khi ly hôn bà V yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp: Bản sao, Giấy khai sinh con chung; Tờ tự khai và đơn khởi kiện ngày 26/7/2023; giấy chứng nhận kết hôn số 88 (bản sao);
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải để động viên bà V, ông T xóa bỏ những bất đồng quan điểm, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà Vân vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với lý do ông T; được triệu tập nhưng đều vắng mặt, không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm với bà V. Vì vậy, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định.
Tại bản thông tin xác nhận nới cư trú bà Lê Thị Y cung cấp xác nhận thông tin ông T vẫn còn đăng ký cư trú tại ấp H, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, bà Vân có đơn xin vắng, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông T, nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung; ông T vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Bà Lê Thị V khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hoàng T, được xác định là tranh chấp“Ly hôn”quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về thẩm quyền: Bị đơn Nguyễn Hoàng T có nơi cư trú tại địa bàn huyện C, tỉnh An Giang. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện C, tỉnh An Giang theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về quan hệ hôn nhân:
Về tính hợp pháp: Bà Lê Thị V, ông Nguyễn Hoàng T quen biết, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, không ai lừa dối hay ép buộc; có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào ngày 28/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang thuộc trường hợp hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận, bảo vệ.
Về tình trạng hôn nhân: Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày thường xuyên cự cãi, không tìm được tiếng nói chung, phát sinh nhiều mâu thuẩn và ly thân cho đến nay, ông T đi làm ăn xa; bà V yêu cầu ly hôn, ông T không có ý kiến phản hồi thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm; bà V xác định không còn tình cảm với ông T và kiên quyết xin được ly hôn;
Với những căn cứ trên, có cơ sở xác định hôn nhân giữa bà V, ông T phát sinh mâu thuẩn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu của bà V xin ly hôn với ông T theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: không có; Tòa án không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu, nên không đề cập;
Về án phí: Bà V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự. Ông T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1.Về hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị V. Cho bà Lê Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 88, do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang, cấp ngày 28 tháng 4 năm 2016 cho bà Lê Thị V với ông Nguyễn Hoàng T không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Bà Lê Thị V tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 09/7/2020, ông Nguyễn Hoàng T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung: không đề cập giải quyết.
4. Về án phí: Bà Lê Thị V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0014024 ngày 10 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang; bà V đã nộp xong.
Ông Nguyễn Hoàng T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bà Lê Thị V, ông Nguyễn Hoàng T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc được niêm yết bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - UBND xã M, huyện C, tỉnh An Giang. - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Huy Phong |