vanban.org

Bản án 278/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 22/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tạm giam bị cáo Nguyễn Công Ng, sinh năm 1991 tại tỉnh Ng; thƣờng trú: Xóm 11, xã Tân Sơn, huyện Đô Lƣơng, tỉnh Ng; chỗ ở: Đƣờng số 19, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng;

Nghề nghiệp: Không. Bị Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công Ng - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo Nguyễn Công Ng, sinh năm 1991 tại tỉnh Ng; thƣờng trú: Xóm 11, xã Tân Sơn, huyện Đô Lƣơng, tỉnh Ng; chỗ ở: Đƣờng số 19, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 278/2020/HS-ST
Ngày 22-7-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Ngọc Công.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân;

2. Ông Tô Văn Nhung.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bá Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 255/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 276/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Công Ng, sinh năm 1991 tại tỉnh Ng; thƣờng trú: Xóm 11, xã T, huyện Đ, tỉnh Ng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Công Nh, sinh năm 1962 (đã chết) và bà Đào Thị V, sinh năm 1962; bị cáo có 03 anh chị ruột, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1987; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 29/3/2020 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Anh Ngô Trí H, sinh năm 1993; thƣờng trú: Xóm 8, xã Ng , huyện Đ, tỉnh Ng; chỗ ở: Số 16B/10 khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh B; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1985; thƣờng trú: Số 12/36 A, phƣờng Q, thành phố N, tỉnh N; chỗ ở: Số 125 Ph, Phƣờng 15, quận T, Thành phố H; vắng mặt.

2. Anh Trần Quang Th, sinh năm 1985; thƣờng trú: Số 8/36 A, phƣờng Q, thành phố N, tỉnh N; chỗ ở: Số 125 Ph, Phƣờng 15, quận T, Thành phố H; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Chị Hoàng Thị Th; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Bản thân Nguyễn Công Ng là ngƣời nghiện ma túy không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28/3/2020, Ng rủ anh Ngô Trí H đến quán cà phê “Trƣờng Hải” thuộc khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh B để uống nƣớc. H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, đen biển số 37D1-864.13 đến quán cà phê “Trƣờng Hải”. Trong lúc nói chuyện Ng nói mƣợn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, đen biển số 37D1-864.13 của H để đi công việc, hứa khoảng 15 phút sau sẽ trả thì đƣợc anh H đồng ý. Sau đó H ngồi tại quán cà phê chờ còn Ng điều khiển xe của H chạy đến ngã tƣ An Sƣơng thuộc Quận 12, Thành phố H tìm bạn tên D (không rõ nhân thân, lai lịch) nhƣng không gặp. Do đang thiếu nợ tiền của D nên lúc này Ng đem xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, đen biển số 37D1-864.13 đi cầm lấy tiền trả nợ và mua ma túy để sử dụng. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Ng điều khiển xe đến tiệm cầm đồ “Anh Duy”, tại địa chỉ số 125 đƣờng Ph, Phƣờng 15, quận T, Thành phố H gặp anh Nguyễn Trung K là quản lý tiệm cầm đồ nói đang cần tiền gấp để đi cấp cứu ngƣời thân bị tai nạn. Do trƣớc đây Ng nhiều lần cầm đồ tại đây nên anh K biết mặt, tuy không có giấy tờ xe nhƣng anh K tin tƣởng đồng ý cầm cho Ng với giá 4.000.000 đồng (không làm hợp đồng). Sau khi nhận tiền, Ng đón xe Grab Bike đi xuống ngã tƣ An Sƣơng để trả nợ cho Dƣơng số tiền 3.200.000 đồng, (tiền nợ mua ma túy trƣớc đó), sau đó Ng đi đến bến xe An sƣơng mua 400.000 đồng ma túy của ngƣời thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch), số tiền còn lại Ng tiêu xài cá nhân hết.

Đối với anh Ngô Trí H, sau khi chờ đợi không thấy Ng mang xe về trả nên đã nhiều lần gọi điện thì Ng cứ hứa hẹn sẽ trả xe nhƣng không trả. Cho đến chiều ngày 29/3/2020, Ng nói cho H biết xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, đen biển số 37D1-864.13 của H đã mang đi cầm lấy tiền trả nợ. Lúc này anh H đến Công an phƣờng An Bình, thành phố Dĩ An trình báo đồng thời hẹn gặp Ng để nói chuyện, khi gặp đƣợc Ng tại Phƣờng 15, Quận T, Thành phố H thì anh H bắt Ng giao Công an Phƣờng 15, quận T, Thành phố H, lập biên bản giữ ngƣời trong trƣờng hợp khẩn cấp, sau đó chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng lập hồ sơ xử lý. Qua quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng Ng khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội của mình nhƣ đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, đen biển số 37D1-864.13, số máy E3X9E465501, số khung 3210JY199294.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 57/BB/ĐG ngày 06/4/2020 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, đen biển số 37D1-864.13 có trị giá 12.000.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận định giá tài sản số: 57/BB.ĐG ngày 06/4/2020 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng

Đối với anh Nguyễn Trung K nhận cầm cố tài sản cho Nguyễn Công Ng nhƣng không biết tài sản do Ng chiếm đoạt mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An không đề nghị xử lý.

Đối với đối tƣợng tên Dƣơng và ngƣời thanh niên bán ma túy cho Ng tại khu vực An Sƣơng thuộc Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện chƣa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng tiếp tục xác minh, làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số: 296/CT-VKS ngày 18 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Nguyễn Công Ng về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Công Ng về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Công Ng từ 09 đến đến 12 tháng tù.

* Về biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng:

- Đối với chủ tiệm cầm đồ “Duy Anh” là anh Trần Quang Th không yêu cầu bị cáo Ng bồi thƣờng số tiền 4.000.000 đồng mà Ng đã cầm cố xe, nhƣng đây là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo nộp số tiền trên để sung vào Ngân sách Nhà nƣớc

- Đối 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, đen biển số 37D1-864.13, hiện đã thu hồi trả lại cho bị hại nên không đặt ra xem xét.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã thu hồi trả lại cho bị hại Ngô Trí H, bị hại H không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, về biện pháp tƣ pháp, xử lý vật chứng và về trách nhiệm dân sự đồng thời bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo; bị hại; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; ngƣời làm chứng, biên bản giữ ngƣời trong trƣờng hợp khẩn cấp và những chứng cứ, tài liệu đƣợc thu thập trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28/3/2020 tại quán cà phê “Trƣờng Hải” thuộc khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh B. Sau khi nhận xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, đen biển số 37D1-864.1308 của anh Ngô Trí H, Nguyễn Công Ng đem đi cầm cố để lấy tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 57/BB/ĐG ngày 06/4/2020 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, đen biển số 37D1-864.13 có trị giá 12.000.000 đồng.

Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo sau khi nhận tài sản của bị hại rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của bị hại có giá trị 12.000.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 296/CT – VKS ngày 18 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Nguyễn Công Ng về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy ít nghiêm trọng nhƣng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành vi nhận tài sản của bị hại rồi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân là trái pháp luật nhƣng vì lòng tham, muốn kiếm tiền nhanh chóng không phải lao động để phục vụ nhu cầu bản thân mà bị cáo cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời chƣa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên bị cáo là ngƣời không có nghề nghiện ổn định và nghiện ma túy nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nhƣng xâm phạm đến tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ đồng thời bị cáo là ngƣời nghiện ma túy, hành vi của bị cáo còn ảnh hƣởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng:

- Đối với chủ tiệm cầm đồ “Duy Anh” là anh Trần Quang Th không yêu cầu bị cáo Ng bồi thƣờng số tiền 4.000.000 đồng mà Ng đã cầm cố xe, nhƣng đầy là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo nộp số tiền trên để sung vào Ngân sách Nhà nƣớc

- Đối 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, đen biển số 37D1-864.13, hiện đã thu hồi trả lại cho bị hại nên không đặt ra xem xét.

Về trách nhiệm dân sự:

- Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã thu hồi trả lại cho bị hại Ngô Trí H, bị hại H không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với anh Nguyễn Trung K nhận cầm cố tài sản cho Nguyễn Công Ng nhƣng không biết tài sản do Ng chiếm đoạt mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An không đề nghị xử lý và đối với đối tƣợng tên Dƣơng và ngƣời thanh niên bán ma túy cho Ng tại khu vực An Sƣơng thuộc Quận 12, Thành phố H, hiện chƣa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng tiếp tục xác minh, làm rõ sẽ xử lý sau là đúng theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, biện pháp tƣ phá, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công Ng phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Công Ng 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2020.

2. Về biện pháp tƣ pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Buộc bị cáo Nguyễn Công Ng nộp 4.000.000 (bốn triệu) đồng để sung vào Ngân sách Nhà nƣớc.

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Công Ng phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND thành phố Dĩ An (01);

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Công an thành phố Dĩ An (03);

- Chi cục THA thành phố Dĩ An (01);

- TAND tỉnh Bình Dƣơng (01);

- Ngƣời tham gia tố tụng (04);

- Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01);

- THA hình sự (04);

- UBND xã, phƣờng bị cáo thƣờng trú (01);

Võ Ngọc Công

- Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng (01);

- Phòng PC 81 CA tỉnh Bình Dƣơng (01);

- Lƣu: VT, HSVA (02). THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ DĨ AN

Độc lập –Tự do –Hạnh phúc TỈNH BÌNH DƢƠNG

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi .......giờ......phút, ngày 28 tháng 4 năm 2020

Tại: Trụ sở TAND thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

H i đồng t sơ th m gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ng Công.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Ông Nguyễn Hiếu Trọn.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2020 đối với:

Bị cáo Nguyễn Th Bình, sinh năm 1995.

Căn cứ iều 299 và iều 2 Bộ lu t T tụng hình s ;

Căn cứ các chứng cứ và tài li u đ được em t tại phiên tòa, ết qu tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp lu t

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BI U QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC

V N Đ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:

1. Vụ án không thuộc trƣờng hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

2. Trong các giai đoạn tố tụng, những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử đánh giá hợp pháp.

Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

3. Về tội danh đối với các bị cáo: Có căn cứ kết tội bị cáo Nguyễn Th Bình phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

4. Về điều luật áp dụng:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

5. Về mức hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Th Bình 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án, đƣợc khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/11/2019 đến ngày 17/11/2019.

Tiếp tục áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú số: 32/2020/HSST-LCĐKNCT ngày 14 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng, kể từ khi tuyên án đến khi Nguyễn Th Bình đi chấp hành án phạt tù.

Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

6. Bị cáo không thuộc trƣờng hợp miến chấp trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.

Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

7. Các vấn đề khác:

7.1 Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chìa khóa Việt Tiệp, màu trắng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/02/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).

Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

7.2 Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Th Bình phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

8. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

9. Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: Không có.

Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

Nghị án kết thúc hồi giờ phút ngày 28 tháng 4 năm 2020.

Biên bản nghị án đã đƣợc đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND thị xã Dĩ An (01);

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Công an thị xã Dĩ An (03);

- Chi cục THA thị xã Dĩ An (01);

- TAND tỉnh Bình Dƣơng (01);

- Ngƣời tham gia tố tụng (03);

- Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01);

- THA hình sự (04);

- UBND xã, phƣờng bị cáo thƣờng trú (01);

Võ Ng Công

- Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng (01);

- Phòng PC 81 CA tỉnh Bình Dƣơng (01);

- Lƣu: VT, HSVA (02). TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘi CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ DĨ AN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH BÌNH DƢƠNG Số: /2020/HSST-QĐTG

Dĩ An, ngày 22 tháng 7 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Ng Công

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Vân và ông Tô Văn Nhung.

Căn cứ vào các Điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 22 tháng 7 năm 2020 của Hội đồng xét xử sơ thẩm.

Xét thấy, cần thiết tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1.

Tạm giam bị cáo Nguyễn Công Ng, sinh năm 1991 tại tỉnh Ng; thƣờng trú: Xóm 11, xã Tân Sơn, huyện Đô Lƣơng, tỉnh Ng; chỗ ở: Đƣờng số 19, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng;

Nghề nghiệp: Không.

Bị Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mƣơi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (22/7/2020)

Điều 2.

Nhà tạm giữ Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ