- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 278/2020/HNGĐ-ST Ngày: 30/07/2020 |
HUYỆN AN PHÚ Độc lập –Tự do – Hạnh phúc V/v tranh chấp “Xin ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phong Phi Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Hoàng Nghiệp Bà Nguyễn Thị Tuyết Ái - Thư ký phiên toà: Bà Trần Đỗ Ngọc Mai Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy- Kiểm sát viên. Trong ngày 30 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú. Tòa án nhân dân huyện An Phú mở xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 122/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2020 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 301/2020/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trường G, sinh năm: 1993. Cư trú: ấp Hòa Hiệp, xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân, An Giang. - Bị đơn: Bà Lâm Thị Lê T, sinh năm: 1993. Cư trú: ấp Phú Thạnh, xã Phú Hữu, huyện An Phú, An Giang. (Ông Giang có mặt; bà T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ông Nguyễn Trường Giang nộp đơn xin ly hôn với bà Lâm Thị Lệ T với nội dung như sau: Hôn nhân giữa ông, bà được hình thành là do thông qua mai mối rồi được cha mẹ hai bên định đứng ra tổ chức đám cưới vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân, An Giang. Sau kết hôn cả hai lên Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn. Cuộc sống chung thời gian
đầu tương đối hạnh phúc và phát sinh mâu thuẫn cách vào tháng 9/2019 đến nay. Nguyên nhân là do hai người bất đồng quan điểm, sống không hợp nhau, vợ chồng có gây cãi nhau rồi bà T tự ý bỏ về nhà cha mẹ ruột đến nay. Hai người ly thân nhau từ đó. Nay ông xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông xin ly hôn với bà T. Về con chung: Không có. Về quan hệ tài sản chung: Có 04 chỉ vàng 24 kara cha mẹ cho trong ngày cưới, bà T đang quản lý. Ông yêu cầu chia đôi theo quy định pháp luật. Nợ chung: Không có, cũng không ai nợ lại ông bà. Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác. Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho bà T theo quy định nhưng bà T vẫn không có mặt theo văn bản triệu tập của Tòa án. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú và tình trạng hôn nhân của ông Giang và bà T để giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tại phiên tòa, Qua động viên giải thích của Hội Đồng xét xử, ông Giang xin rút lại yêu cẩu chia tài sản chung, chỉ yêu cầu được ly hôn với bà T. Riêng bà T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà theo thủ tục chung. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng…là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần HĐXX không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy ông Giang và bà T có mâu thuẫn vơ chồng và không thể hàn gắn được do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[ 1] Về thủ tục tố tụng: Hôn nhân giữa ông Giang và bà T là do mai mối rồi cha mẹ đứng ra tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp; bà T là bi đơn cư trú trên địa bàn huyện An Phú, nên yêu cầu xin ly hôn của ông Giang được tòa án thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa hai người hình thành là do mai mối, được cha mẹ hai bên đứng ra tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau vài tháng thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân nhau. Nay ông Giang xin ly hôn do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Chứng cứ mà Tòa án thu thập được: Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân và nơi cư trú của bà Lâm Thị Lệ T ngày 17/7/2020 được ông Trần Trung Hiếu – Trưởng công an xã Phú Hữu, huyện An Phú, tỉnh An Giang cung cấp thông tin như sau: Hiện nay bà T vẫn còn đăng ký hộ khẩu tại ấp Phú Thạnh, xã Phú Hữu, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Về tình trạng hôn nhân thì thì ông không rõ. Xét nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn ngay từ ban đầu là bất đồng nhau trong cách sống, lẽ ra hai bên tự tìm cách hóa giải để tạo điều kiện cho cuộc sống hạnh phúc. Hiện tại ông Giang xác định là không còn tình cảm với bà T nửa và mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng không có tiếng nói chung không thể tiếp tục chung sống. Ngược lại cả hai cùng bỏ mặc nhau, không quan tâm, địa phương biết, gia đình biết cả hai không còn yêu thương nhau. Trong thời gian ly thân cả hai đều không quan tâm nhau để hàn gắn, căn cứ khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân gia đình, thì ông bà đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 luật hôn nhân và gia đình 2014 “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”, do đó Tòa án nhận thấy cả hai vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó Tòa án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ. [3] Về quan hệ con chung: Không có. [4] Về quan hệ tài sản chung: Ông Giang rút lại yêu cầu chia tài sản chung. Nợ chung: Không có, cũng không ai nợ lại vợ chồng ông. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bà T vắng mặt, sau này bà T có yêu cầu tranh chấp thì Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác. [5] Về án phí: Do yêu cầu của ông Giang được chấp nhận nên ông phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Bà T không phải chịu án phí sơ thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trường Giang. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Trường Giang được ly hôn với bà Lâm Thị Lệ T. Giấy chứng nhận kết hôn số 14, ngày 15/3/2019 của Ủy ban nhân dân xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật. Đình chỉ yêu cầu chia sản chung của ông Giang. Về án phí: Ông Giang không phải chịu án phí dân sự về việc chia tài sản chung. Ông Giang phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000984 ngày 24/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú (ông Giang được nhận lại 225.000đ). Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/7/2020) Các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bà Lâm Thị Lệ T được tính từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang (1); - VKSND tỉnh An Giang (1) - VKSND huyện An Phú (2); - Chi cục THADS huyện An Phú (1); - UBND xã nơi kết hôn (1); - Các đương sự; - Lưu văn phòng (1). - Lưu hồ sơ (1); | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phong Phi |