- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn - nuôi con"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 277/2026/HNGĐ-ST Ngày: 24/7/2026 V/v:“Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lữ Cẩm Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Nhiệm Toàn;
2. Bà Trần Thu Hận.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Tuyền- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang.
Ngày 24 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 761/2026/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2026 về việc "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 316/2026/QĐXX-ST ngày 24 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 262/2026/QĐST – HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1983
Địa chỉ: ấp H, xã H, tỉnh An Giang.
(Chị N có mặt)
Bị đơn: Anh Lê Hoàng A, sinh năm 1983
Địa chỉ: Ấp H, xã H, tỉnh An Giang.
(Anh Hoàng A vắng mặt lần 2 không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 16/03/2026 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Vào năm 2003 chị và anh Lê Hoàng A cùng nhau đi đến hôn nhân, trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã V, thị xã V, thành phố Cần Thơ cấp ngày 08/05/2003.
Cuộc sống chung vợ chồng lúc đầu hạnh phúc nhưng sau đó thời gian đến năm 2025 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, thường hay xảy ra cự cải, không hợp nhau về tính tình và cách sống dẫn đến vợ chồng không còn tiếng nói chung và vợ chồng không còn hạnh phúc nữa và đã sống ly thân từ năm 2025 cho đến nay.
Nay chị xét thấy không còn tình cảm với anh Hoàng A nữa nên chị quyết định ly hôn với anh Hoàng A.
Về con chung: Trong quá trình chung sống chị và anh Hoàng A 02 con chung tên Lê Thị Thanh T, sinh ngày 14/3/2004 và Lê Thủy T1, sinh ngày 24/02/2006, hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng chị không có tạo lập được tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết còn về phần nợ thì vợ chồng cũng không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị N yêu cầu:
- Về hôn nhân: Xin ly hôn với anh Lê Hoàng A
- Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Thị Thanh T, sinh ngày 14/3/2004 và Lê Thủy T1, sinh ngày 24/02/2006, hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn anh Lê Hoàng A đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Lê Hoàng A đều không có mặt.
Tại phiên tòa chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Hoàng A. Anh Hoàng A vắng mặt lần 2 không lý do.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N khởi kiện tranh chấp xin ly hôn với bị đơn anh Lê Hoàng A, sinh năm 1983 có địa chỉ ấp H, xã H, tỉnh An Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân khu vực 5 – An Giang đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh Hoàng A tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vẫn tiếp tục vắng mặt phiên tòa lần thứ hai không có lý do và tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn. Do vậy, căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử (HĐXX) tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp theo quy định pháp luật.
[2] Về hôn nhân: Chị N và anh Hoàng A kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn năm 2003 tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến năm 2025 anh chị phát sinh mâu thuẫn, theo chị N nguyên nhân chủ yếu về vấn đề về tính tình và cách sống dẫn đến vợ chồng không còn tiếng nói chung và vợ chồng không còn hạnh phúc nữa. Thực tế vợ chồng chị đã sống trong tình trạng ly thân trong thời gian từ năm 2025 cho đến nay Quá trình giải quyết vụ án, anh Hoàng A không có mặt theo thông báo để Tòa án tiến hành hòa giải, thể hiện anh không có thiện chí để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng và tại phiên tòa hôm nay mặc dù anh Hoàng A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị N và anh Hoàng A đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng A để ổn định cuộc sống. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N, xử cho chị N được ly hôn anh Hoàng A là hoàn toàn phù hợp theo quy định pháp luật.
[3] Về quan hệ con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị N xác nhận trong thời gian chung sống vợ chồng chị có 02 con chung tên Lê Thị Thanh T, sinh ngày 14/3/2004 và Lê Thủy T1, sinh ngày 24/02/2006, hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh Hoàng A đúng theo quy định pháp luật nhưng anh vẫn vắng mặt không lý do nên Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung giữa chị N và anh Hoàng A được. Hơn nữa chị N xác nhận vợ chồng chị không có tạo lập được tài sản gì chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, về phần tài sản chung HĐXX không xem xét nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
[5] Về nợ chung: Chị N xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị N phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 9, Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Lê Hoàng A.
2. Về con chung: Chị N xác nhận 02 con chung tên Lê Thị Thanh T, sinh ngày 14/3/2004 và Lê Thủy T1, sinh ngày 24/02/2006, hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung: Chị N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Chị N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Chị N phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai số 304811 ngày 08 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh A; chị N không phải nộp thêm.
“ Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 5- An Giang; - THADS tỉnh An Giang; - Phòng THADS khu vực 5 – An Giang; - Các đương sự; - UBND xã; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lữ Cẩm Nhung |