- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị S.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 277/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23/9/2025. V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Liềm.
2. Ông Lý Tuấn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Thị Kim Lài – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang (Cơ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 179/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025, về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 90/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 05 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị S - sinh ngày 01/01/1975, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ cũ: ấp Thới Trung, xã Thới Quản, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Nay là ấp Thới Trung, xã Định Hòa, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q - sinh năm 1972, vắng mặt.
Địa chỉ cũ: ấp Thới Trung, xã Thới Quản, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Nay là ấp Thới Trung, xã Định Hòa, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/5/2025, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Ngô Thị S như sau:
Bà và ông Nguyễn Văn Q sống chung với nhau vào năm 2000, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới, vợ chồng ông bà đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang vào ngày 18/8/2016.
Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chồng bà có người phụ nữ khác nên bỏ nhà đi theo người ta từ tháng 8/2024 cho đến nay không quay về. Hiện vợ chồng không còn khả năng chung sống với nhau được nữa và bà không còn tình cảm với ông Nguyễn Văn Q nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn Q.
Thời gian chung sống vợ chồng ông bà có 03 người con chung tên Nguyễn Thị L – sinh ngày 06/10/2001, Nguyễn Thị Kim A – sinh ngày 08/4/2003 và Nguyễn Thị Anh T – sinh ngày 03/7/2005.
Về tài sản chung: Vợ chồng bà không có tài sản chung.
Về nợ chung: Bà cam đoan vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyện vọng:
Về hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn Q.
Về con chung: Hiện các con chung của vợ chồng bà đều đã trưởng thành nên bà không yêu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Q đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Nguyễn Văn Q không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông Nguyễn Văn Q.
- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang tại phiên tòa:
Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do là không tuân thủ pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụg dân sự xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Ngô Thị S được ly hôn với ông Nguyễn Văn Q. Về con chung, về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Ngô Thị S và ông Nguyễn Văn Q là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025.
Ông Nguyễn Văn Q là bị đơn trong vụ án, ông Nguyễn Văn Q có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay ông Nguyễn Văn Q vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên. Tòa án đã niêm yết các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Nguyễn Văn Q vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn Q.
Bà Ngô Thị S có đơn xin vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của bà Ngô Thị S không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Ngô Thị S.
Về hôn nhân: Bà Ngô Thị S và ông Nguyễn Văn Q cưới nhau vào năm 2000, có tổ chức đám cưới, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại trễ hạn Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 211/2016, ngày 18/8/2016, như vậy, Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của bà Ngô Thị S và ông Nguyễn Văn Q là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của bà Ngô Thị S và ông Nguyễn Văn Q là hôn nhân tự nguyện, ông bà sống hạnh phúc khoảng 23 năm và có 03 người con chung nhưng vợ chồng ông bà đã phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được. Bà Ngô Thị S cho rằng chồng bà có người phụ nữ khác nên bỏ nhà đi theo người ta từ tháng 8/2024 cho đến nay không quay về. Ngày 01/8/2025 và ngày 20/8/2025, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng ông Nguyễn Văn Q vắng mặt và bà Ngô Thị S cương quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn Q. Xét thấy, trong thời gian ly thân bà và ông Nguyễn Văn Q vẫn còn liên lạc với nhau và ông Nguyễn Văn Q biết bà đã nộp đơn ly hôn ở Tòa án, khi Tòa án mời ông Nguyễn Văn Q đến Tòa án để hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ thì ông Nguyễn Văn Q không có mặt cho thấy ông không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này và cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Bà Ngô Thị S cương quyết xin ly hôn với ông Nguyễn Văn Q và tỏ rõ thái độ không còn tình cảm yêu thương ông Nguyễn Văn Q, vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Ngô Thị S.
Về con chung: Bà Ngô Thị S và ông Nguyễn Văn Q có 03 người con chung tên Nguyễn Thị L – sinh ngày 06/10/2001, Nguyễn Thị Kim A – sinh ngày 08/4/2003 và Nguyễn Thị Anh T – sinh ngày 03/7/2005, đã trưởng thành và có gia đình riêng nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Ngô Thị S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Tại phiên tòa sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí HNGĐST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Ngô Thị S phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014939, ngày 12/5/2025, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị S.
Về hôn nhân: Xử cho bà Ngô Thị S ly hôn với ông Nguyễn Văn Q.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Ngô Thị S phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0014939, ngày 12/5/2025, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; -VKSND cùng cấp; -THADS; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | Phan Thị Thùy Trang |