vanban.org

Bản án 277/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh L và chị Võ Thị Xuân V.

Buộc anh Lưu Hoài P có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Thanh L và chị Võ Thị Xuân V số tiền vốn 110.000.000 đồng, thời gian trả khi án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày anh L, chị V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh P chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh L và chị Võ Thị Xuân V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 277/2024/DS-ST
Ngày: 06/8/2024
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay
tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tuyết Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lê Văn Rở

2/ Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thuỳ Trang - thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 288/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2024/QĐXX-ST ngày 16/7/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn:

1/ Nguyễn Thanh L – sinh năm 1979;

2/ Võ Thị Xuân V – sinh năm 1981;

Cùng địa chỉ: ấp ĐT, xã LBĐ, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện uỷ quyền của chị V và anh L: Lê Thuỵ Cẩm T – sinh năm 1997;

Địa chỉ: ấp BTT, xã BP, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

* Bị đơn: Lưu Hoài P - sinh năm 1997;

Địa chỉ: ấp TT, xã BP, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Chị T có đơn xin vắng mặt;

Anh P có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cũng như đại diện uỷ quyền của nguyên đơn là chị Lê Thuỵ Cẩm T trình bày:

Vợ chồng anh L chị V có choa nh P vay số tiền 130.000.000 đồng, anh P có làm biên nhận cho anh P chị V. Biên nhận ngày 01/5/2021 AL (tức ngày 10/6/2021 DL), các bên có thoả thuận miệng lãi suất 2%/01 tháng, thời hạn vay 02 tháng (tức ngày 01/7/2021 AL tương

- 2 -

đương ngày 08/8/2021 DL) sẽ trả dứt nợ. Tuy nhiên khi đến hạn thanh toán (ngày 08/8/2021 DL) anh P chỉ trả được số tiền vốn 20.000.000 đồng, nay anh P còn nợ 110.000.000 đồng tiền vốn.

Vợ chồng anh L chị V đã nhiều lần liên hệ, nhắc nhở yêu cầu anh P trả nợ nhưng anh P cố tình né tránh, không trả tiền, từ đó ảnh hưởng đến quyền lợi của anh L chị V.

Nay anh L chị V yêu cầu anh P trả số tiền vốn 110.000.000 đồng và yêu cầu trả lãi với mức lãi suất tính từ ngày 09/8/2021 DL đến ngày xét xử, tạm tính 62.084.000 đồng. Yêu cầu trả cả vốn và lãi khi án có hiệu lực pháp luật.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Lưu Hoài P trình bày:

Tôi và anh L, chị V có mối quan hệ quen biết nhau. Trước đây (thời gian tôi không nhớ), tôi có vay của anh L, chị V số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất 6%/01 tháng, không thoả thuận thời hạn trả. Đến thời điểm hiện nay tôi đã trả cho anh L, chị V số tiền vốn 190.000.000 đồng nên còn nợ lại số tiền vốn 110.000.000 đồng, lần cuối cùng trả khi nào thì tôi không nhớ.

Nay tôi chỉ đồng ý trả cho anh L, chị V số tiền vốn là 110.000.000 đồng, không đồng ý trả lãi nữa.

Tôi mỗi tháng có trả lãi cho anh L, chị V khoảng 10 mấy triệu, còn tổng số tiền lãi bao nhiêu thì tôi không nhớ, khi trả lãi cho anh L, chị V thì không có làm biên nhận gì cho tôi, tôi cũng không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh. Tuy nhiên, tôi vay tiền thì tôi phải chịu lãi, không có ý kiến hay yêu cầu gì về tiền lãi. Đối với biên nhận ngày 01/5/2021 âm lịch mà nguyên đơn khởi kiện tôi, không phải tôi viết, tôi cũng không có ký tên và ghi họ tên trong biên nhận. Tôi không yêu cầu giám định chữ viết, chữ ký trong biên nhận ngày 01/5/2021 âm lịch.

* Tại phiên toà , bị đơn Lưu Hoài P trình bày:

Tôi đồng ý trả cho anh L, chị V số tiền vốn 110.000.000 đồng, tôi không đồng ý trả lãi, tôi xin trả dần mỗi tháng 300.000 đồng cho đến khi hết nợ.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Anh L, chị V khởi kiện yêu cầu anh P trả cho ông số tiền vay, do đó, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.

Anh P là bị đơn có nơi cư trú tại: ấp TT, xã BP, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang nên căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- 3 -

Chị T là đại diện uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên Toà án căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị T.

Đối với yêu cầu khởi kiện của anh L, chị V Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với số tiền vốn: Anh L, chị V khởi kiện yêu cầu anh P trả số tiền vốn vay 110.000.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình anh L , chị V cung cấp bản chính biên nhận mượn tiền ngày 01 tháng 5 năm 2021 AL, biên nhận này anh L, chị V trình bày anh P viết, ký tên và ghi họ tên Lưu Hoài P. Anh P trình bày chữ ký, chữ viết trong biên nhận ngày 01 tháng 5 năm 2021 AL không phải do anh viết, ký tên và ghi họ tên, anh cũng không yêu cầu giám định, tuy nhiên anh P thừa nhận còn nợ anh L, chị V số tiền vốn 110.000.000 đồng. Do đó, anh L, chị V khởi kiện yêu cầu anh P trả số tiền vốn vay 110.000.000 đồng là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với số tiền lãi: Tại đơn khởi kiện anh L, chị V yêu cầu tính lãi nhưng tại bản tự khai ngày 5/8/2024 chị T đại diện uỷ quyền của anh L, chị V không yêu cầu tính lãi, chỉ yêu cầu trả vốn nên Hội đồng xét xử không xem xét về lãi suất.

Từ những phân tích trên, anh L, chị V khởi kiện yêu cầu anh P có nghĩa vụ trả cho anh chị số tiền vốn 110.000.000 đồng, thời hạn trả khi án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về thời hiệu khởi kiện: Do các bên không có ai yêu cầu về thời hiệu khởi kiện nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không xem xét về thời hiệu khởi kiện.

Về án phí: Do yêu cầu của anh L, chị V được chấp nhận nên anh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 92, Điều 94, Điều 95, Điều 147, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng Điều 463; Điều 466; Điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh L và chị Võ Thị Xuân V.

Buộc anh Lưu Hoài P có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Thanh L và chị Võ Thị Xuân V số tiền vốn 110.000.000 đồng, thời gian trả khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày anh L, chị V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh P chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí: Anh Lưu Hoài P phải chịu 5.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho anh Nguyễn Thanh L, chị Võ Thị Xuân V số tiền 4.303.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0007654 ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- 4 -

3. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng đối với đương sự vắng mặt thời hạn trên tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ