vanban.org

Bản án 277/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 27/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Th phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt Lê Thị Th 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang là ngày 29/06/2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ ma túy thu giữ của bị cáo gồm 0,221 gam Methamphetamine chứa trong 01 túi nilon màu trắ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Th tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị Th phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 277/2021/HS-ST
Ngày: 27/10/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Lanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Châu

Bà Nguyễn Thị Huyền Nga

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi Nga

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Ông Dương Thái Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 287/2021/TLST-HS ngày 11/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 303/2021/QĐXX-HS ngày 13/10/2021, đối với bị cáo:

Lê Thị Th, sinh năm 19xx – Hộ khẩu thường trú: Số xx, ngách xx/xx phố HM, phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội. Nơi ở: Số xx, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hóa: 10/12. Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Văn T và bà Hoàng Thị N. Có chồng và 02 con (con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012). Tiền án, tiền sự: 01 tiền án, ngày 30/01/2018, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/10/2019 (chưa xóa án tích). Bị bắt quả tang ngày 29/06/2021. Hiện đang tạm giam tại Trại giam Số 1, Công an Thành phố Hà Nội.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 05 phút ngày 29/06/2021, tại khu vực đầu ngõ Hòa Bình 7, phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội, Tổ công tác công an phường Vĩnh Tuy trong khi làm nhiệm vụ phát hiện Lê Thị Th có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Th tự giác lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2x2)cm bên trong chứa các tinh thể màu trắng giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận đó là ma túy đá bản thân mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng, đưa Th về trụ sở cơ quan Công an để làm rõ.

Tang vật thu giữ: 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2x2)cm bên trong chứa các tinh thể màu trắng. Ngoài ra, không thu giữ gì khác.

Kết luận giám định số 5462/KLGĐ-PC09 ngày 07/07/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma tuý loại Methamphetamine khối lượng 0,221 gam.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 22 giờ 00 ngày 29/06/2021, Th đi bộ đến khu vực cầu Mai Động, phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy. Tại đây Th gặp và mua của một người thanh niên không quen biết 01 túi ma tuý đá với số tiền 100.000đ. Th cất túi ma tuý mua được vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng, khi đến khu vực đầu ngõ Hòa Bình 7, phường Minh Khai thì bị Tổ công an kiểm tra bắt giữ.

Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải Th xác định được địa điểm mua ma tuý, nhưng không xác định được người thanh niên đã bán ma tuý cho Th. Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý đối với người đã bán ma tuý cho Th.

Tại Cáo trạng số 266/CT-VKS-HBT ngày 07/10/2021, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố Lê Thị Th về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Thị Th khai nhận hành vi tàng trữ ma túy đúng như nội dung Cáo trạng đã thể hiện, giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo với mức hình phạt từ 18 đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung; tịch thu tiêu hủy tang vật là 0,221 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, của Điều tra viên, của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về định tội và hình phạt:

Xét lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản dẫn giải, kết luận giám định, và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 23 giờ 05 phút ngày 29/06/2021, tại khu vực đầu ngõ Hòa Bình 7, phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội, Lê Thị Th đã có hành vi tàng trữ 0,221 gam ma túy loại Methamphetamine chứa trong 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2x2)cm cất giấu trong túi quần phía trước bên trái đang mặc, mục đích tàng trữ ma tuý để sử dụng.

Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình nhưng cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý độc quyền đối với các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, hủy hoại sức khỏe, nhân cách của người trực tiếp sử dụng, là nguyên nhân lây lan căn bệnh HIV/AIDS, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác; bị Nhà nước nghiêm cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt. Hành vi của bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng kết luận về hành vi phạm tội và truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án, ngày 30/01/2018, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/10/2019, chưa xóa án tích, thuộc trường hợp tái phạm, phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi bị bắt quả tang, cũng như quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ vật chứng là 0,221 gam ma túy loại Methamphetamine chứa trong 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2x2)cm thu giữ của bị cáo.

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với người đã bán ma tuý cho bị cáo, bị cáo không biết nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Th phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt Lê Thị Th 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang là ngày 29/06/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ ma túy thu giữ của bị cáo gồm 0,221 gam Methamphetamine chứa trong 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2x2)cm. Tang vật đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 30/09/2021 (292/21) giữa Công an quận Hai Bà Trưng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ