vanban.org

Bản án 277/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu của anh Cao Hoàng Q.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Anh Cao Hoàng Q được ly hôn với chị Phan Thị L. 2/ Về con chung: Giao cháu Cao Uyên Trúc M, sinh ngày 25/12/2008 và Cao Hoàng N, sinh ngày 26/10/2010 cho anh Cao Hoàng Q trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Phan Thị L không cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Cao Hoàng Q xin ly hôn chị Phan Thị L"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu của anh Cao Hoàng Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 277/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 16/6/2020
V/v tranh chấp: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Phước Lung.

2. Ông Mai Lưu Quốc Đạt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Phụng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2020/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2020/QĐXX-ST ngày 04 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Cao Hoàng Q, sinh năm 1983 (có mặt);

Địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Chị Phan Thị L, sinh năm 1984 (vắng mặt);

Địa chỉ hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Chổ ở: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện, Bản tự khai và tại Tòa hôm nay, anh Cao Hoàng Q trình bày:

Anh và chị Phan Thị L cưới nhau vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang vào ngày 03/4/2009. Thời gian đầu sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh chị bất đồng quan điểm nên thường xuyên xung đột, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Anh và chị L đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành và đã sống ly thân từ tháng 8/2019 cho đến nay. Nay do tình cảm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu được ly hôn với chị L.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Cao Uyên Trúc M, sinh ngày 25/12/2008 và Cao Hoàng N, sinh ngày 26/10/2010. Khi ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị L cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Theo Bản tự khai, chị Phan Thị L trình bày:

Chị và anh Cao Hoàng Q phát sinh mâu thuẫn từ năm 2017, nguyên nhân do anh Q không chăm lo cho gia đình. Hiện nay chị cũng không còn tình cảm với anh Q nên chị đồng ý ly hôn với anh Q.

Về con chung: Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa có ý kiến phát biểu:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký và những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử Thẩm phán và Thư ký chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ kiện: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, xét thấy việc anh Cao Hoàng Q và chị Phan Thị L có mâu thuẫn kéo dài không hàn gắn được, anh chị đã ly thân từ tháng 8/2019 cho đến nay nên việc anh Q yêu cầu ly hôn với chị L là có cơ sở. Đối với con chung hiện nay đang do anh Q nuôi dưỡng, các cháu cũng có nguyện vọng muốn sống với anh Q khi cha mẹ ly hôn, đồng thời anh Q yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Cao Hoàng Q và chị Phan Thị L là vợ chồng, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Về thực trạng hôn nhân: Quá trình tố tụng và tại phiên Tòa, anh Cao Hoàng Q trình bày mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị xuất phát từ việc anh chị bất đồng quan điểm nên thường xuyên xung đột, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, anh và chị L đã cố hàn gắn nhiều lần nhưng không được, hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đã ly thân từ tháng 8/2019 cho đến nay.

[5] Về các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến trình bày, tranh luận của đương sự và căn cứ giải quyết vụ án: Quá trình tố tụng, chị Phan Thị L trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Q không chăm lo cho gia đình, hiện nay chị cũng không còn tình cảm với anh Q nên chị đồng ý ly hôn với anh Q. Do đó việc anh Q trình bày tình cảm vợ chồng anh chị không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và yêu cầu ly hôn là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Anh Q yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Cao Uyên Trúc M, sinh ngày 25/12/2008 và Cao Hoàng N, sinh ngày 26/10/2010, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Chị L cũng có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung khi ly hôn. Xét con chung hiện đang do anh Q nuôi dưỡng, các cháu có Bản tự khai trình bày nguyện vọng muốn sống với anh Q khi cha mẹ ly hôn. Đồng thời, quá trình tố tụng, Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo đã tiến hành tống đạt hợp L các văn bản tố tụng theo đúng quy định nhưng chị L vắng mặt tại các phiên hòa giải. Tại phiên toà hôm nay, chị L cũng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy việc yêu cầu nuôi con chung của anh Q, không yêu cầu chị L cấp dưỡng là phù hợp với thực tế, phù hợp với nguyện vọng của con chung, không trái với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Q.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Q và chị L trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về Điều luật áp dụng: áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Nhận định ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Tại Tòa, đại diện Viện Kiểm sát có ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung vụ án, Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Anh Cao Hoàng Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu của anh Cao Hoàng Q.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Anh Cao Hoàng Q được ly hôn với chị Phan Thị L.

2/ Về con chung: Giao cháu Cao Uyên Trúc M, sinh ngày 25/12/2008 và Cao Hoàng N, sinh ngày 26/10/2010 cho anh Cao Hoàng Q trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Phan Thị L không cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Phan Thị L được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

3/ Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

4/ Về án phí: Anh Cao Hoàng Q phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Anh đã nộp 300.000 đồng theo biên lai 0003405 ngày 11/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, xem như đã nộp xong.

Anh Cao Hoàng Q có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án; chị Phan Thị L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đ thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ