- Tranh chấp gì? án hình sự — "án hình sự - lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn X T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 276/2026/HS- ST Ngày 29/5/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Thanh H.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Văn Hp;
Nghề nghiệp: Hưu Trí;
Bà Lại T T Hà;
Nghề nghiệp: Hưu trí.
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Kỳ Anh - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 7, Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Đỗ Lê Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội xét xử công khai trực tuyến sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 251/2026/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2026/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn X T, sinh năm: 1992 tại Hà Nô Ri; căn cước công dân số: 001092005100; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Quan Âm, xã Phúc Thịnh, thành phố Hà Nô Ri; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Chất (đã chết) và bà Nguyễn Thị Liễu; có vợ là: Cao Thu Hiền; Con: có 03 con (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2023); tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân:
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 237/2011/HSST ngày 21/11/2011 của Tòa án huyện Đông Anh, Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bị can đã thực hiệc xong các quyết định của Bản án. (Đã được xoá án tích).
- Ngày 30/06/2015, Công an phường Nam Đồng, Q.Đống Đa, Hà Nội xử phạt hành chính với mức phạt 1.500.000đ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đã nộp phạt ngày 02/7/2015. Tiền sự đã được xoá
- Ngày 08/02/2020, Công an quận Long Biên, Hà Nội xử phạt hành chính, phạt 2.500.000đ về hành vi Cố ý gây thương tích( đã hết thời hiệu).
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2025/HSST ngày 31/3/2025 củaTòa án huyện Đông Anh, Hà Nội xử phạt 11 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma tuý. Bị cáo đang thi hành án trong vụ án khác tại Phân trại 3 - Trại giam Vĩnh Quang, Bộ Công an.
- Bị hại: Anh Nguyễn Hữu Kiên, sinh năm 1981. (Vắng mặt).
Trú tại: Thôn Cổ Điển, xã Vĩnh Thanh, thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Thành Tuấn, sinh năm 1981. (Vắng mặt).
Trú tại: Thôn Cổ Điển, xã Vĩnh Thanh, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 01/12/2020, anh Nguyễn Hữu Kiên ( sinh năm: 1981; Nơi thường trú: Thôn Cổ Điển, xã Vĩnh Thanh, TP Hà Nội) mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda wave, màu sơn đen xanh, BKS 29S1-842.60 của anh Đỗ Thành Tuấn (Sinh năm: 1981; Nơi thường trú: thôn Cổ Điển, xã Vĩnh Thanh, TP Hà Nội, là em rể của Kiên) để sử dụng mục đích cá nhân.
Khoảng 21h30' ngày 01/12/2020, anh Nguyễn Hữu Kiên điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda wave, màu sơn đen xanh, BKS 2951-842.60 đến cổng chào thôn Hậu Dưỡng, xã Kim Chung, huyện Đông Anh, TP Hà Nội, nay thuộc thôn Hậu Dưỡng, xã Thiên Lộc, TP. Hà Nội thì gặp Nguyễn X T đang đứng một mình tại vỉa hè. Anh Kiên dừng xe nói chuyện, Trường hỏi mượn chiếc xe máy của anh Kiên khoảng 5 phút để đi lấy chiếc điện thoại đang sửa chữa tại cửa hàng điện thoại ở thôn Bầu, anh Kiên đồng ý đưa xe máy và chìa khóa cho Trường. Anh Kiên chờ lâu không thấy Trường trả lại chiếc xe máy nên anh Kiên đi về. Sau đó, anh Kiên nhiều lần đến nhà tìm gặp nhưng Trường không có ở nhà. Sau khi mượn xe của anh Kiên, Nguyễn X T lái xe đi lấy chiếc điện thoại đang sửa tại cửa hàng điện thoại tại thôn Bầu, xã Thiên Lộc, TP Hà Nội. Khoảng 23h ngày 01/12/2020, Trường điều khiển xe máy mượn của anh Kiên đến cây xăng Phú Minh bán cho người đàn ông này với giá 5.000.000 đồng. Số tiền bán xe Trường đã tiêu sài cá nhân hết. Sau khi bán xe của anh Kiên, Trường đi làm ở Sơn La, không sử dụng điện thoại và không về nhà.
Kết luận định giá sản số 167/ HĐĐGTS ngày 07/05/2021 của Hội đồng định huyện Đông Anh kết luận chiếc xe máy nhãn hiệu Honda wave, màu sơn đen xanh, BKS 2951-842.60 trị giá 18.323.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn X T khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được.
Đối với người đàn ông mua xe của Trường, Trường khai chỉ gặp một lần trước đó, điện thoại và số điện thoại dùng để liên lạc Trường đã không sử dụng nữa. Ngoài lời khai của Trường không còn tài liệu nào khác nên cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ.
Về dân sự: Bà Nguyễn Thị Liễu- mẹ đẻ Nguyễn X T đã bồi thường cho anh Đỗ Thành Tuấn số tiền 18.323.000 đồng. Anh Tuấn đã nhận tiền, không có yêu cầu gì về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn X T.
Tại bản cáo trạng số 397/CT - VKS ngày 21/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội đã truy tố Nguyễn X T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu án phí Tòa án.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn X T mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 11 năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2025/HSST ngày 31/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là từ 12 năm 03 tháng đến 12 năm 06 tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/8/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường trị giá của chiếc xe đã chiếm đoạt cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 01/12/2020, Nguyễn X T có hành vi mượn chiếc xe máy Honda wave, màu sơn đen xanh, BKS 2951-842.60 của anh Nguyễn Hữu Kiên tại thôn Hậu Dưỡng, xã Thiên Lộc, TP. Hà Nội sau đó mang đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân hết dẫn đến việc không có khả năng trả lại tài sản. Trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 18.323.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng do không chịu lao động mà muốn hưởng lợi trên thành quả của người khác nên đã lợi dụng sự tin tưởng của chủ sở hữu để chiếm đoạt tài sản. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Bộ luật hình sự quy định để có một mức hình phạt phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bị cáo được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự như đã nêu trên; căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy bị cáo đã từng bị đưa ra xét xử về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đã bị xử phạt hành chính 02 lần. Hiện đang chấp hành án trong vụ án khác nên cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
V× c¸c lÏ trªn;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn X T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
2. Về điều khoản áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn X T 17 (Mười bảy) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 11 năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2025/HSST ngày 31/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 12 (Mười hai) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/8/2024.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu án phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung Ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình./.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VNKSND TP. Hà Nội; - VKSND Khu vực 7, Hà Nội; - Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội; - Trại giam Vĩnh Quang, Bộ Công an. - Chi cục THA dân sự huyện Sóc Sơn; - Bị cáo; Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh H |