vanban.org

Bản án 276/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị M về việc ly hôn ông Phạm Văn Gi.

Về con chung: Đã thành niên nên không đặt ra trách nhiệm nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà M xin ly hôn ông Gi"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị M về việc ly hôn ông Phạm Văn Gi.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 276/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27 – 6 – 2024
“Về tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hứa Minh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Minh Hoàng

2. Ông Phạm Việt Bắc

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thúy Vân, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 185/2024/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1965 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp L.Tr, xã K.H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Phạm Văn Gi, sinh năm: 1962 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp L.Tr, xã K.H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 29/02/2024 và biên bản hòa giải ngày 15/4/2024, bà Nguyễn Thị M trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Phạm Văn Gi xác lập quan hệ hôn nhân và chung sống vợ chồng vào năm 1984, hôn nhân được xác lập trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức hỏi cưới theo phong tục, tập quán và được gia đình hai bên chấp thuận nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định.

Quá trình chung sống, bà M cho rằng thời gian đầu vợ, chồng hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống không còn hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân do ông Gi hay ghen tuông, hành hạ, đánh đập bà vô cớ, ông Gi cam kết, hứa hẹn nhiều lần nhưng không sửa đổi mà ngày càng nghiêm trọng hơn. Do đó, bà xét thấy tình cảm vợ, chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Gi.

- Về con chung: Bà M xác định giữa bà và ông Gi có 03 người con chung tên Phạm Thị Th, sinh năm 1985; Phạm Thị Th1, sinh năm 1999; Phạm Thị K, sinh năm 2000, hiện các con ông, bà đã thành niên và đã lập gia đình sống riêng nên không đặt ra trách nhiệm nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà M xác định vợ, chồng bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà M khai giữa vợ, chồng bà không thiếu nợ ai và không ai nợ lại vợ, chồng bà.

* Trong biên bản hòa giải ngày 15/4/2024, ông Phạm Văn Gi trình bày: Về hôn nhân, con, tài sản, nợ đúng như lời trình bày của bà M. Về mâu thuẫn gia đình do ông thương vợ nên hay ghen tuông, nhưng một phần cũng do vợ ông không có phản ứng gì khi người khác chọc ghẹo. Xét thấy tình cảm ông dành cho vợ vẫn còn nên ông không đồng ý ly hôn với bà M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về tố tụng: Về loại việc tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Tranh chấp giữa bà M và ông Gi là tranh chấp về ly hôn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với việc vắng mặt của ông Phạm Văn Gi: Mặc dù đã được Toà án thông báo các văn bản tố tụng cho ông Gi biết để tham gia phiên tòa xét xử vụ án thông qua thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng nhưng ông Gi vẫn không có ý kiến phản hồi, đồng thời cũng không có mặt tại Tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Gi theo quy định. Đối với việc đề nghị vắng mặt của bà Nguyễn Thị M, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà M theo quy định.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M và ông Phạm Văn Gi xác lập quan hệ hôn nhân và chung sống vợ chồng vào năm 1984, hôn nhân được xác lập trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức hỏi cưới theo phong tục, tập quán và được gia đình hai bên chấp thuận nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Xét thấy hôn nhân của bà M và ông Gi tuy không đăng ký kết hôn theo quy định nhưng theo Nghị quyết số: 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 và Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 thì trường hợp của ông, bà được xem là hôn nhân thực tế, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét mâu thuẫn thực tế là có nhiều mâu thuẫn, thường xuyên và kéo dài đến nay, nhận thấy về mục đích hôn nhân không đạt. Bởi lẽ, vợ chồng luôn bất hòa, nghi kỵ, thường xuyên cự cải, không thể nào khắc phục được nên bà M bỏ nhà ra đi để tạo cơ hội cho ông, bà có thời gian thử thách và suy ngẫm lại bản thân mình nhằm duy trì gia đình hòa thuận và hạnh phúc, chăm lo cho nhau, cùng nuôi dạy con cái. Nhưng quá trình đó, ông, bà cũng không có biện pháp khắc phục nhằm bảo vệ hạnh phúc gia đình mà lại tiếp diễn gây bất hoà với nhau, tình cảm phai nhạt, làm mất lòng tin đối với nhau, mỗi người có cuộc sống và mối quan hệ riêng tư, không quan tâm, giúp đở lẫn nhau. Trên thực tế ông, bà đã không còn sống chung khoảng 02 năm nay. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà M đối với ông Gi là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Bà M xác định giữa bà và ông Gi có 03 người con chung tên Phạm Thị Th, sinh năm 1985; Phạm Thị Th1, sinh năm 1999; Phạm Thị K, sinh năm 2000, hiện các con ông, bà đã thành niên và đã lập gia đình sống riêng nên không đặt ra trách nhiệm nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn phù hợp.

Về tài sản chung: Bà M và ông Gi xác định vợ, chồng bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Bà M, ông Gi khai giữa vợ, chồng bà không thiếu nợ ai và không ai nợ lại vợ, chồng bà nên không đề cập giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị M về việc ly hôn ông Phạm Văn Gi.

2. Về con chung: Đã thành niên nên không đặt ra trách nhiệm nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng.

3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không xem xét.

4. Về nợ chung: Không có nên không đề cập giải quyết.

5. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000đ. Ngày 22 tháng 3 năm 2024, bà M đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số: 4726 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu sung quỹ nhà nước.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bà Nguyễn Thị M và ông Phạm Văn Gi được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ