vanban.org

Bản án 276/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 21/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phùng Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: P1 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 27/3/2023. Về vât chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong bằng phong bì thư của Phòng K Công an tỉnh T. Số ma túy trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phùng Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ THANH HOÁ
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 276/2023/HS-ST
Ngày: 21-7- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quý

Bà Nguyễn Thị Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Hà - Thư ký Tòa án TP Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát thành phố T tham gia phiên tòa:

Bà Trịnh Thị Thu L - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 285/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 316/2023/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Phùng Ngọc T - sinh năm 1990 tại Thanh Hóa. Nơi thường trú: Phòng 110 chung cư Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: số nhà B K, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phùng văn Thanh và bà: Trịnh Thị P; Tiền án: không; tiền sự: tháng 4/2022 bị Công an thành phố T xử phạt hành chính về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe người khác”; nhân thân: năm 2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tạm giữ: ngày 27/3/2023; tạm giam: ngày 02/4/2023 tại nhà tạm giữ Công an thành phố T, “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20h40 ngày 27/3/2023, tại trước số nhà B K, phường Đ, thành phố T. Tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T phối hợp với Công an phường Đ, thành phố T phát hiện bắt quả tang Phùng Ngọc T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra, thu giữ của T 01 gói giấy bạc bên trong chứa 03 viên nén màu đỏ. T khai đó là ma túy, mua về để sử dụng.

Tại cơ quan điều tra T khai nhận: Do bản thân sử dụng ma túy nên khoảng chiều tối ngày 27/3/2023, T một mình đi bộ đến khu vực hồ N, phường Đ, thành phố T mua của một thanh niên tên B (không biết địa chỉ) 03 viên hồng phiến với giá 300.000đ. Sau khi mua được ma túy, T mang về cất giấu dưới gầm bàn uống nước dể sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Tại bản kết luận giám định số 1267/KL-KTHS ngày 30/312023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 03 viên nén màu đỏ của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,272 gam (không phấy hai bảy hai gam) loại Methamphetamine.

Đối với người đàn ông tên B (T không biết địa chỉ) bán ma túy cho T. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người có tên và đặc điểm như T khai, ngoài lời khai của T không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý. Tại bản cáo trạng số 232/CT-VKS ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Phùng Ngọc Tuấn về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án thấy đủ cơ sở chứng minh: Vào khoảng 20h40 ngày 27/3/2023, tại trước số nhà B K, phường Đ, thành phố T. Phùng Ngọc T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng 0,272gam loại Methamphetamine.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Phùng Ngọc T có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở và đúng pháp luật.

Tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Mặc dù, bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng do xem thường pháp nên bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an chung cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục và phòng ngừa chung.

Trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu đã bị các cơ quan pháp luật cải tạo, giáo dục nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo không chịu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật. Với tính chất nghiêm trọng của loại tội phạm về ma túy, mức độ và hành vi phạm tội thì việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên khi áp dụng hình phạt cần căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng, không có tính chất vụ lợi nên không phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Toàn bộ số ma túy thu của bị cáo được niêm phong bằng phong bì thư là vật nhà nước cấm lưu hành, sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy. Căn cứ vào khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Phùng Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: P1 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 27/3/2023.

Về vât chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong bằng phong bì thư của Phòng K Công an tỉnh T. Số ma túy trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 196/2023/THA ngày 22/6/2023).

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm

Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM.

Cỡ chữ