vanban.org

Bản án 276/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 20/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Xuân Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đinh Xuân Th 05 (Năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03-7-2021. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Xuân Th - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Xuân Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 276/2021/HSST
Ngày: 20-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Công Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Trần Văn Th

- Bà Trần Thị Mai

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thủy - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 277/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 277/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Đinh Xuân Th, sinh năm 1982; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi sinh: tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu tại: Số nhà A2F1 tập thể C50, phường Trường Thi, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú tại: số nhà 09/46 đường Phạm Văn Xô, phường Lộc Hạ, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; con ông: Đinh Văn T, sinh năm 1957 và bà: Nguyễn Thị Khánh V, sinh năm 1957; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: Chưa; tiền án: Ngày 24-9-2015 Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; ngày 15-9-2016 Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 30 tháng tù của bản án số 126 ngày 24-9-2015 của Tòa án nhân dân thành phố N buộc bị cáo Đinh Xuân Th phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 05 năm 06 tháng tù; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03-7-2021 sau đó chuyển tạm giam đến nay hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố N; (Có mặt).

Người làm chứng:

- Anh Phạm Đức C, sinh năm 1972

- Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1979

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 02-7-2021, tổ công tác Công an phường P, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 2/5 Đ, phường T, thành phố N phát hiện Đinh Xuân Th đi bộ một mình, có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện, thu giữ trong túi quần bên phải Th đang mặc 01 túi ni lông màu trắng, mở kiểm tra bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (Th khai là gói ma túy đá). Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng, đưa Th và mời người làm chứng về trụ sở Công an phường Phan Đình Phùng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật.

Bản kết luận giám định số 928/GĐKTHS ngày 09/7/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi ni lông màu trắng, thu giữ của Đinh Xuân Th được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu: 0,965 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Đinh Xuân Th khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng và khai nhận nguồn gốc gói ma túy trên như sau: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 02/7/2021, Th đi bộ từ nhà đến một ngõ nhỏ (không nhớ số ngõ) trên đường Đ, phường T, thành phố N mua của một nam thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ), đang đứng ở trong ngõ 01 gói ma túy đá, được gói bằng túi ni lông màu trắng với số tiền 500.000 đồng. Th cầm gói ma túy đá vừa mua cất vào trong túi quần bên phải đang mặc, rồi đi về tìm nơi sử dụng. Khi Th đi đến trước cửa số nhà 2/5 Đoàn Trần Nghiệp, phường Trần Đăng Ninh, thành phố N thì bị phát hiện, bắt giữ.

Đối tượng đã bán ma túy cho Đinh Xuân Th do chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra xử lý sau.

Bản cáo trạng số 276/CT-VKSTPNĐ ngày 01-10-2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Đinh Xuân Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây được viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Xuân Th khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên toà, luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đánh giá mức độ hành vi phạm tội, nhân thân cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo Đinh Xuân Th có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đinh Xuân Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS: Xử phạt bị cáo Đinh Xuân Th từ 05 (Năm) năm 03 (Ba) tháng đến 05 (Năm) năm 09 (Chín) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy vật chứng là số ma túy đã thu giữ.

Bị cáo Đinh Xuân Th nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đinh Xuân Th không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Đinh Xuân Th tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; Lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 02-7-2021, tại khu vực trước cửa số nhà 2/5 Đ, phường T, thành phố N, Đinh Xuân Th đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,965 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo Đinh Xuân Th là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng Methamphetamine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,965 gam nên bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời điểm phạm tội, bị cáo có 02 lần bị kết án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Đinh Xuân Th đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết định khung do vậy không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Đinh Xuân Th là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N, bản thân bị cáo có nhân thân rất xấu nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Đinh Xuân Th là người nghiện ma túy, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số Heroine thu giữ của bị cáo Đinh Xuân Th là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Đinh Xuân Th bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đinh Xuân Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xử phạt bị cáo Đinh Xuân Th 05 (Năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03-7-2021.

2. Xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy gói ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 928/GĐKTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định. (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01-10-2021 giữa Công an thành phố N và Chi cục thi hành án Dân sự thành phố N).

3. Án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Đinh Xuân Th phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Đinh Xuân Th có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ