vanban.org

Bản án 276/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 26/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Sùng A C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Sùng A C 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (12/9/2018). Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 bị cáo Sùng A C được miễn toàn bộ án phí HSST. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng A C - Mua bán TPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Sùng A C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 276/2018/HSST
Ngày 26/ 11/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Bà Bạc Thị Liên

Các hội thẩm nhân dân:

1.Ông Lò Văn Thương

2. Ông Nguyễn Quang Khải

- Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Đoản - Thư ký, Toà án nhân dân huyện Đ.

- Đại diện VKSND huyện Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nhữ Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26/11/2018 Tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện Đ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 279/2017/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 283/2018/QĐXXST- HS ngày 16/11/2018 đối với bị cáo:

1. Họ tên: Sùng A C. Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1994, tại Điện Biên.

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Bản H A2, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Dân tộc: H' Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Làm nương.Trình độ học vấn: 1/12

Con ông: Sùng Sái D, sinh năm 1961. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T, H. Con bà: Giàng Thị N, sinh năm 1962. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án xét xử. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 12/9/2018. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 12/9/2018, Sùng A C đi bộ từ nhà ở bản H A2, xã K, huyện Đ đến khu vực bản T, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên để tìm việc làm thuê, khi đi đến đầu bản T, C gặp và mua được 28 viên Methamphetamine gói trong 01 túi nilon màu xanh, miệng túi có nếp gấp cố định với giá 560.000đ của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi không rõ lai lịch, mục đích để sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời. Sau khi mua được, C cất giấu gói Methamphetamine vào túi vải màu đen tự tạo đeo trên người. Hồi 14 giờ ngày 12/9/2018, khi C, đang đứng ở đường thuộc bản T, xã N, huyện Đ thì bị tổ công tác Công An huyện Đ phối hợp với Công an xã N phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi vải màu đen tự tạo của Sùng A C đang đeo trên người 27 viên Methamphetamine cùng 60.000đ

Ngoài ra C còn khai nhận sau khi mua được Methamphetamine C đã bán cho một người thanh niên dân tộc Thái khoản 20 tuổi không rõ lại lịch trên đường thuộc bản T xã N, huyện Đ 01 viên Methamphetamine với giá 60.000đ vào ngày 12/9/2018.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 12/9/2018 đã xác định: 27 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp thu giữ của Sùng A C có khối lượng là 2,74 gam trích 0,19 gam gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 808/GĐ-PC54 ngày 24/9/2018 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Sùng A Của gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 223/CT-VKSĐB ngày 13/11/2018; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Sùng A C về tội: " Mua bán trái phép chất ma túy theo Khoản 1 Điều 251/BLHS.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội: " Mua bán trái phép chất ma tuý, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 251/BLHS; Điểm s Khoản 1, Điều 51/BLHS: Xử phạt bị cáo Sùng A C từ 04 năm đến 4 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng của vụ án; Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điều 12 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016, đề nghị HĐXX xem xét miễn án phí đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo Sùng A C một lần nữa khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã trình bày ở trên. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND huyện Đ, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Khoảng 08 giờ ngày 12/9/2018, Tại khu vực đầu bản T, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên C đã gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Thái không biết tên, địa chỉ 28 viên Methamphetamine gói trong 01 túi nilon màu xanh với giá 560.000đ, mục đích đem về sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Sau khi mua được C cất giấu gói Methamphetamine vào trong túi vải màu đen tự tạo đeo trên người. Hồi 14 giờ ngày 12/9/2018, khi C đang đứng ở đường thuộc bản T, xã N, huyện Đ thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã N phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi vải màu đen tự tạo của Sùng A C đang đeo trên người 27 viên Methamphetamine cùng 60.000đ

Ngoài ra Của còn khai nhận sau khi mua được Methamphetamine C đã bán cho một người thanh niên dân tộc Thái khoảng 20 tuổi không rõ lại lịch trên đường thuộc bản T xã N, huyện Đ 01 viên Methamphetamine với giá 60.000đ. Ngoài lời khai của C và số tiền thu giữ không có tài liệu, chứng cứ nào khác do đó Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra người thanh niên không biết tên như bị cáo đã khai nên HĐXX không có cơ sở để buộc tội bị cáo đã bán 01 viên Methamphetamine cho người khác.

Vật chứng thu giữ của Sùng A C sau khi cân là 2,74 gam Methamphetamine. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và vật chứng của vụ án được ghi tại biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng. Hành vi mua 2,74 gam Methamphetamine cất giấu trong túi vải màu đen đeo trên người mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt từ 2 đến 7 năm tù. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự và phải chịu hình phạt mà pháp luật quy định do hành vi phạm tội của mình đã gây ra.

. Xét tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi đó đã làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa bàn xã Núa Ngam nói riêng và huyện Đ nói chung. Hành vi đó đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, làm lan tràn tệ nạn nghiện ma tuý và tiếp tay cho những kẻ buôn bán ma tuý hoạt động, ảnh hưởng đến trật tự trị an trong xã hội. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo cho thấy. Sinh ra và lớn lên tại Đ, học đến lớp 1/12 thì nghỉ học ở nhà làm nương. Bắt đầu sử dụng ma túy từ đầu năm 2018. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS.

HĐXX xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để tiếp tục giáo dục, cải tạo và có thời gian cai nghiện để bị cáo cải sửa lỗi lầm của mình trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

. Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 251/BLHS. Nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, sống phụ thuộc gia đình lại là đối tượng nghiện ma túy nên không có khả năng thi hành vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xét đề nghị của đại diện VKS là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

Nguồn gốc số Methamphetamine trên theo lời khai của bị cáo đã mua của một người đàn ông dân tộc Thái không biết tên và địa chỉ tại khu vực bản Tân Ngam, xã Núa Ngam, huyện Đ. Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý do vậy HĐXX không xem xét trong vụ án.

. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng. Tịch thu tiêu huỷ 2,74 gam Methamphetamine trích 0,19 gam gửi giám định không hoàn lại. 01 túi vải tự tạo có dây đeo, màu đen dài 18cm, rộng 11 cm. Trả lại cho bị cáo số tiền 60.000đ.

. Về án phí: Bị cáo có hộ khẩu thường trú tại xã đặc biệt khó khăn thuộc diện miễn án phí. Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 bị cáo được miễn toàn bộ án phí HSST.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251/BLHS; Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS.

1. Tuyên bố: Bị cáo Sùng A C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”

2. Xử phạt bị cáo Sùng A C 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (12/9/2018).

3. Căn cứ: Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015. Tịch thu để tiêu huỷ: 2,74 gam Methamphetamin đã trích 0,19 gam gửi giám định không hoàn lại. 01 túi vải tự tạo có dây đeo, màu đen dài 18cm, rộng 11cm. Trả lại cho bị cáo số tiền 60.000đ. (Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ vào ngày 20/11/2018).

4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 bị cáo Sùng A C được miễn toàn bộ án phí HSST.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ( ngày 26 /11/2018)

Cỡ chữ