vanban.org

Bản án 276/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly Hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 276/2018/HNGĐ_ST
Ngày: 27/8/2018
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Nhựt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trương Thị Thìn – Cán bộ hưu trí

2. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên – Cán bộ Hội liên Hiệp phụ nữ Tp.Biên Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Thương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2018, tại Hội trường 06 – Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1699/2017/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 297/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Cao Thi Mỹ X, sinh năm 1981

Địa chỉ: 189/91, Kp.02, P.Trung Dũng, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ liên lạc: 354/2, Kp.01, P.Trung Dũng, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

2. Bị đơn: Ông Lý Văn Y, sinh năm 1973

Địa chỉ: K1/34D, tổ 28, Kp.02, P.Bửu Hòa, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

(Bà X xin vắng mặt, ông Y vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Cao Thị Mỹ X trình bày: Trên cơ sở tự nguyện và sau thời gian tìm hiểu, năm 2003 bà cùng ông Lý Văn Y tự nguyện kết hôn. Ngày 27/02/2003, UBND phường Trung Dũng, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 39/TP-HT, quyển số 02/2003 cho bà và ông Y. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng càng về sau càng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do các bên bất đồng trong quan điểm sống. Mỗi lần bà có ý kiến thì mâu thuẫn lại phát sinh. Đến nay vợ chồng đã sống ly thân. Dù muốn hàn gắn đoàn tụ nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông Y, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Y.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lý Thành Đạt, sinh ngày 04/10/2000 và Lý Thị Quỳnh Như, sinh ngày 02/01/2007. Khi ly hôn bà đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng trên cơ sở có sự đồng ý của con chung và không yêu cầu ông Y cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung khi ly hôn bà X xác định để các bên tự thỏa thuận, nợ chung của vợ chồng khi ly hôn bà X xác định là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai ngày 30/01/2018 bị đơn ông Lý Văn Y trình bày: Vợ chồng ông tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2003, đăng ký kết hôn tại UBND phường Trung Dũng. Thời gian vợ chồng chung sống có xảy ra một số mâu thuẫn nhưng không trầm trọng. Nay bà X làm đơn xin ly hôn thì ông không đồng ý vì vẫn còn thương vợ con, ông không muốn gia đình tan vỡ, ảnh hưởng con cái.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lý Thành Đạt, sinh ngày 04/10/2000 và Lý Thị Quỳnh Như, sinh ngày 02/01/2007. Khi ly hôn ông không đồng ý giao con cho bà X nuôi mà muốn trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà X cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Do không đồng ý ly hôn nên ông không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành lấy ý kiến của các cháu Lý Thành Đạt, sinh ngày 04/10/2000 và Lý Thị Quỳnh Như, sinh ngày 02/01/2007, cả hai cháu có nguyện vọng được bà X trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai:

Về việc tuân thủ quy định của thẩm phán, thư ký, hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của bị đơn là không đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết:

- Nguyên đơn bà Cao Thị Mỹ X khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lý Văn Y đối chiếu Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp ly hôn. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà X là nguyên đơn, ông Y là bị đơn trong vụ án.

- Ông Y có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ các điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

2. Về thủ tục tố tụng khác: Nguyên đơn bà X có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Y đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ đến tham dự phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, không có lý do; căn cứ khoản 01, điểm b khoản 02 Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

3. Nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thị Mỹ X và ông Lý Văn Y tự nguyện kết hôn, có làm thủ tục đăng ký kết hôn và đã được UBND phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận đăng ký kết số 39/TP-HT, quyển số 02/2003 ngày 27/2/2003, đối chiếu các điều 9, điều 11và điều 12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 được xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà X xác định vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, không còn tình cảm nên đề nghị ly hôn với ông Y. Ông Y cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn nhưng không đến mức phải ly hôn và do thương vợ, con nên ông không đồng ý ly hôn .Theo biên bản xác minh ngày 24/4/2018, tại địa phương nơi bà X ông Y sinh sống, địa phương xác định giữa vợ chồng ông Y bà X có mâu thuẫn, cuộc sống gia đình không hạnh phúc và hiện đã sống ly thân. Xét thấy, việc mâu thuẫn trong cuộc sống giữa ông Y và bà X là có thực. Bà X xác định mâu thuẫn giữa các bên đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên vẫn cương quyết ly hôn với ông Y. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà X là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Bà X và ông Y đều có ý kiến muốn trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bên còn lại cấp dưỡng nuôi con. Con chung là Lý Thành Đạt, sinh ngày 04/10/2000 và Lý Thị Quỳnh Như, sinh ngày 02/01/2007 đều có nguyện vọng được bà X trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, việc giao con chung cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi của con chung, đảm bảo quy định pháp luật. Ông Y không phải cấp dưỡng nuôi con do bà X không yêu cầu.

Về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, bà X xác định để vợ chồng tự thỏa thuận; nợ chung của vợ chồng khi ly hôn bà X xác định là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Y không đồng ý ly hôn nên cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Do đó các đương sự được quyền khởi kiện đối với phần này bằng một vụ án khác khi có yêu cầu

- Về án phí: Bà Cao Thị Mỹ X phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 68, khoản 4 Điều 147; 227, 266 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 09, 11, 12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000.

Áp dụng các điều 51, 56, 71, 81, 82, 83, khoản 01 Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị Mỹ X đối với bị đơn ông Lý Văn Y về việc tranh chấp ly hôn.

Tuyên xử:

Bà Cao Thị Mỹ X, sinh năm 1981 được ly hôn với ông Lý Văn Y, sinh năm 1973.

Về con chung: Giao con chung là Lý Thành Đạt, sinh ngày 04/10/2000 và Lý Thị Quỳnh Như, sinh ngày 02/01/2007 cho bà Cao Thị Mỹ X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Lý Văn Y không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Y được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp cần thiết một trong các bên có quyền xin thay đổi quyền trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng khi ly hôn các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

Về án phí: Bà Cao Thị Mỹ X phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 002553 ngày 18/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà X đã nộp đủ án phí theo quy định.

Bà X, ông Y được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ