- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng: Điểm h Khoản 2 điều 194; điểm p, khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự Xử phạt: Phạm Văn T 7(bảy) năm tù,thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 10/10/2017.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 194 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH Q | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 276/2017/HSST Ngày 28/12/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Gia Ninh. Các Hội thẩm nhân dân: 1.Bµ Hồ Thị Lan 2.¤ng Nguyễn Đắc Nam Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Như Ngọc – th ký toà án nhân dân thành phố H. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Viên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 12 năm 2017 tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Q, Toà án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 222/2017/HSST ngày 07 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn T, tên gọi khác: không; sinh ngày: 27/10/1970 tại thành phố H, tỉnh Q; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ 15, khu 3A, phường G, thành phố H, tỉnh Q; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; họ tên bố: Phạm Văn N; sinh năm: 1932; họ và tên mẹ: Hoàng Thị H; sinh năm: 1937; Vợ: Dương Thị L; sinh năm: 1972; có 02 con: lớn sinh năm 1994; nhỏ sinh năm 2001; tiền án,tiền sự : ch a. Bị bắt quả tang ngày 10/10/2017, hiện đang tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Qua các tài liệu có trong hồ sơ và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tối ngày 08/10/2017, Phạm Văn T đến khu vực đường tàu thuộc phường G, thành phố H mua của một người phụ nữ không quen biết 01 (một) túi ma túy (loại ma túy đá), với giá 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) và 01 (một) túi ma túy (loại Hêrôin) giá 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) rồi đem về chia túi ma túy đá đóng thành 06 (sáu) túi nhỏ, còn túi ma túy hêrôin T lấy ra một ít gói vào 02 (hai) gói giấy. Tất cả số ma túy này T đem cất giấu trong túi quần treo phòng ngủ, nhằm mục đích để bán kiếm lời. Đến khoảng 21 giờ ngày 10/10/2017, T đem 01 (một) túi ma túy đá ra khu vực thuộc tổ 15, khu 3A, phường G, thành phố H bán cho Lê Văn H với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) thì bị công an thành phố H phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên tay trái của T 300.000 đồng; thu giữ trên tay phải của H một túi nilon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Khám xét nơi ở của T tại tổ 15, khu 3A, phường G, thành phố H. Cơ quan điều tra còn thu giữ trong túi quần treo trên mắc áo trong phòng ngủ của T 05 (năm) túi nilon bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon bên trong có chứa các cục bột màu trắng và 02 gói giấy bên trong mỗi gói đều có chứa chất bột màu trắng.
Tại bản Kết luận giám định số 648/GĐMT ngày 13/10/2017 của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Q kết luận:
- Chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ của Lê Văn H là chất ma
túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 0,16g ;
- Chất tinh thể mày trắng trong 05 túi nilon thu giữ trong túi quần treo trong
phòng ngủ của Phạm Văn T là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 1,16g ;
- Chất bột màu trắng dạng cục trong 01 túi nilon và 02 gói giấy thu giữ trong
túi quần treo trong phòng ngủ của Phạm Văn T là chất ma túy, loại Hêrôin, trọng lượng 6,76g
Quá trình điều tra Phạm Văn T đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Tại bản Cáo trạng số 225/KSĐT-HS ngày 06 tháng 11 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo điểm h, khoản 2, Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quan
điểm truy tố bị cáo và đề nghị: ¸p dụng điểm h khoản 2, điều 194; điểm p, khoản 1, điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 7 năm tù đến 7 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2017.
VÒ vËt chøng : ¸p dông ®iÓm b kho¶n 1 ®iÒu 41 Bé luËt h×nh sù ; ®iÓm a, c
kho¶n 2 ®iÒu 76 Bé luËt tè tông h×nh sù : - tịch thu tiêu hủy 1,02 gam Methamphetamine và 6,61 gam Hêrôin. Tịch thu 300.000 ®ång sung quü Nhµ n íc
Tại phiên toà bị cáo thµnh khÈn khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ
hình phạt.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH :
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo. Héi ®ång xÐt xö nhËn thÊy : Tại phiên toà hôm nay bị cáo Phạm Văn T có lời khai phù hợp nội dung bản cáo trạng đã quy kết, bÞ c¸o thừa nhận đã phạm tội, bị cáo khai: khoảng 21 giờ ngày 10/10/2017, tại tổ 15, khu 3A, phường G, thành phố H, tỉnh Q, bị cáo có hành vi bán trái phép 01 túi Methamphetamine, trọng lượng 0,16 gram với giá 300.000 đồng cho Lê Văn H, thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra, bị cáo có hành vi cất giấu trái phép 1,16 gram Methamphetamine và 6,76 gram Hêrôin mục đích để bán.
Lời khai của bị cáo Phạm Văn T phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang thể hiện : Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 10/10/2017 tại tổ 15, khu 3A, phường G, thành phố H, tỉnh Q. Công an phường thành phố H phát hiện bắt quả tang Phạm Văn T và Lê Văn H có hành vi mua bán trái phép ma túy, thu giữ tay trái của Phạm Văn T số tiền 300.000 đồng; thu giữ tay phải của Lê Văn H 01 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
Tại biên bản khám xét nơi ở của T tại tổ 15, khu 3A, phường G, thành phố H. Cơ quan điều tra còn thu giữ trong túi quần treo trên mắc áo trong phòng ngủ của T 05 (năm) túi nilon bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon bên trong có chứa các cục bột màu trắng và 02 gói giấy bên trong mỗi gói đều có chứa chất bột màu trắng.
Tại bản Kết luận giám định số 648/GĐMT ngày 13/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q kết luận:
- Chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ của Lê Văn H là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 0,16g ;
- Chất tinh thể mày trắng trong 05 túi nilon thu giữ trong túi quần treo trong phòng ngủ của Phạm Văn T là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 1,16g ;
- Chất bột màu trắng dạng cục trong 01 túi nilon và 02 gói giấy thu giữ trong túi quần treo trong phòng ngủ của Phạm Văn T là chất ma túy, loại Hêrôin, trọng lượng 6,76g ;
Ng êi mua ma tuý Lê Văn H có lời khai : Khoảng 21 giờ ngày 10/10/2017, H đến tổ 15, khu 3A, phường G, thành phố H có mua của Phạm Văn T là bạn bè quen biết ngoài xã hội 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng thì bị công an bắt quả tang. Quá trình bắt giữ công an thu giữ tay phải của H 01 túi ma túy vừa mua của T với giá 300.000 đồng, thu giữ tay trái của T 300.000 đồng.
Người làm chứng Nguyễn Tất P có lời khai về việc: Khoảng 21 giờ ngày 10/10/2017 tại tổ 15, khu 5A, phường G, thành phố H, tỉnh Q. Anh P chứng kiến công an kiểm tra bắt giữ 2 người đàn ông (sau này biết là Phạm Văn T và Lê Văn H) có hành vi mua bán trái phép ma túy, thu giữ của H 01 túi ma túy đá, thu giữ của T 300.000 đồng là tiền H vừa đưa cho T.
Với các chứng cứ nêu trên, kết hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ thấy có đủ cơ sở kết luận: Phạm Văn T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại điểm h khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Bị cáo là người trưởng thành nhận thức được tác hại của ma túy, cũng như sự ngăn cấm của pháp luật. Bản thân bị cáo năm 2007 đã bị Tòa án nhân dân thành phố H xét xử tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy làm bài học để tu dưỡng bản thân sống lương thiện, có ích cho xã hội mà bị cáo với ý thức lười lao động, hám lợi,muốn thu lợi nhuận cao mà không phải lao động nên đã bất chấp pháp luật có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Hành vi phạm tội của bị cáo không những gây mất trật tự an ninh của địa phương mà còn tiếp tay cho những kẻ buôn bán ma tuý khác. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo điểm h khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Do đó, cần xử phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới mong giáo dục, cải tạo bị cáp thành người lương thiện và đấu tranh phòng ngừa chung.
- XÐt vÒ t×nh tiÕt t¨ng nÆng, gi¶m nhÑ thÊy : bÞ c¸o ch a cã tiÒn ¸n, tiÒn sù, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mẹ bị cáo có công với nước được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạnh nhì nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại điểm p, khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt bổ xung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên không phạt tiền bị cáo.
- Về vật chứng : Cơ quan điều tra thu giữ của Phạm Văn T 300.000 đồng do phạm tội mà có nên cần tịch thu xung quỹ Nhà nước. Ngoài ra còn thu giữ 1,02 gam Methamphetamine và 6,61 gam Hêrôin hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo qui định pháp luật. Từ những lý lẽ trên, Hội đồng xét xử
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng: Điểm h Khoản 2 điều 194; điểm p, khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự Xử phạt: Phạm Văn T 7(bảy) năm tù,thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 10/10/2017. Áp dụng : ®iÓm b, c kho¶n 1 ®iÒu 41 Bé luËt h×nh sù ; ®iÓm a, c kho¶n 2 ®iÒu 76 Bé luËt tè tông h×nh sù : tịch thu tiêu hủy 1,02 gam Methamphetamine và 6,61 gam Hêrôin trong phong bì số 648/GĐMT và tÞch thu 300.000 ®ång sung quü Nhµ n íc theo biªn b¶n sè 28/BB- THA ngµy 15/11/2017 cña chi côc thi hµnh ¸n thµnh phè H¹ Long Áp dụng: điều 99 BLTTHS, LuËt án phí, lệ phí Toà án, NghÞ quyÕt 326/ 2016 cña UBTVQH 14. Buéc bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng)án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo - VKSND TP H - Công an TP H - Thi hành án - Toà án tỉnh - Lưu HS | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Phạm Gia Ninh |