vanban.org

Bản án 275/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 20/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27-7-2021. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trung Thành - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
T PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 275/2021/HSST
Ngày: 20-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN T PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Công Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Trần Văn Thắng

- Bà Trần Thị Mai

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân T phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố N tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân T phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 273/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 273/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Trung T, sinh năm 1983; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi sinh: Tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Số nhà 115 đường C, phường H, T phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Nguyễn Phúc D, sinh năm 1949 và bà: Đàm Thị N (đã chết); gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; vợ con: Chưa; tiền án: Ngày 09-3-2017 Tòa án nhân dân T phố N xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23-10-2013 Tòa án nhân dân T phố N xử phạ 33 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (ra trại ngày 22-02-2016); ngày 20-6-2016 Công an phường Hạ Long xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27-7-2021 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an T phố N; (Có mặt).

Người làm chứng:

1. Anh Phạm Văn V, sinh năm 1979

2. Ông Nguyễn Đức L, sinh năm 1969.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 27-7-2021, tổ công tác Công an xã Nam Vân, T phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cổng Chi cục thuế khu vực T phố N - M, số 2 T, phường T, T phố N phát hiện Nguyễn Trung T đang đứng một mình có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra thu giữ trên tay phải của T 01 gói giấy ăn màu trắng, mở kiểm tra bên trong là 02 gói nilông màu đen, trong mỗi gói đều gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (T khai là 02 gói Heroine tàng trữ để sử dụng). Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng đưa T và mời người làm chứng về trụ sở Công an xã Nam Vân, T phố N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định pháp luật.

Bản kết luận giám định số: 1046/GĐKTHS ngày 02/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Trung T được niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại ma túy Heroine, tổng khối lượng mẫu 0, 276 (không phẩy hai trăm bảy mươi sáu) gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Trung T khai: Khoảng 10 giờ ngày 27-7-2021, T đi bộ một mình ra khu vực hồ V, phường V, T phố N. Lúc này T gặp L (không rõ lai lịch, địa chỉ) đang đi xe đạp, L rủ T góp tiền mua ma túy về cùng sử dụng, T đồng ý đưa cho L 60.000đồng, L góp 140.000 đồng (tổng số là 200.000 đồng). L cầm tiền và chở T bằng xe đạp đi đến khu vực trước cổng Chi cục thuế khu vực T phố N - Mỹ Lộc, số 2 T, phường T, T phố N, Long bảo T xuống xe và đứng chờ để L đến khu vực ngõ 75 T, phường L, T phố N để mua ma túy, khoảng 10 phút sau Long quay lại điểm hẹn đưa cho T 01 giấy ăn màu trắng bên trong gói 02 gói ma túy và đạp xe đi tiếp để mua dụng cụ sử dụng. T cầm 02 gói ma túy Long đưa trên tay phải thì bị phát hiện bắt giữ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an T phố N đã phối hợp với công an phường Vị Hoàng, T phố N tiến hành xác minh đối với đối tượng tên Long, theo T khai là người đã góp tiền mua ma túy cùng T tại khu vực hồ V, phường V, T phố N, L khoảng 40 tuổi cao khoảng 1m64, dáng người bình thường. Công an phường V, T phố N cung cấp tại khu vực quanh hồ Vị , phường V, T phố N không có đối tượng nào tên L có đặc điểm nhận dạng như T khai. Do chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an T phố N tách ra để tiếp tục điều tra xử lý sau.

Bản cáo trạng số 281/CT-VKSTPNĐ ngày 01-10-2021 của Viện kiểm sát nhân dân T phố N truy tố bị cáo Nguyễn Trung T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây được viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung T khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố N giữ quyền công tố tại phiên toà, luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đánh giá mức độ hành vi phạm tội, nhân thân cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo Nguyễn Trung T có đủ yếu tố cấu T tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Kiểm sát viên đã giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T từ 27 đến 33 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy vật chứng là số ma túy đã thu giữ.

Bị cáo Nguyễn Trung T nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân T phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Trung T tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; Lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 27-7-2021, tại khu vực trước cổng Chi cục thuế khu vực T phố N - Mỹ Lộc, số 2 T, phường T, T phố N, Nguyễn Trung T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo Nguyễn Trung T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,276 gam Heroine nên bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Nguyễn Trung T đã T khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Bị cáo đã bị kết án về tội “Tàng trữ tái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích lại phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trung T là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn T phố N, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy và có nhân thân rất xấu nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo theo đề xuất của Kiểm sát viên là tương đối phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Trung T là người nghiện ma túy, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số Heroine thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trung T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27-7-2021.

2. Xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy gói ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 1046/GĐKTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định. (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23-9-2021 giữa Công an T phố N và Chi cục thi hành án Dân sự T phố N).

3. Án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Trung T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn Trung T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ