- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Nguyễn Tuấn N 16(Mười sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 275/2019/HSST Ngày 29/11/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG- THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội dồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Liên Sơn
Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Mạnh Huề
Ông Đoàn Xuân Miễn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Thủy- Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa:
Bà Giang Thị Ánh Tuyết- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 293/2019/HSST ngày 21/11/2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/QĐXX -ST ngày 21/11/2019, đối với bị cáo:
Nguyễn Tuấn N - Sinh năm 1985; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Số 8, phố H, phường N, quận Ba Đình, Hà Nội; Chỗ ở: P23 B05, xã T, huyện Thanh Trì, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Nguyễn Hữu T; Họ tên mẹ: Trịnh Thị M; Có vợ là Nguyễn Thị Th; có 01 con sinh 2011;
Tiền án- Tiền sự: Không;
Bắt quả tang ngày 24/8/2019; Bị tạm giữ từ ngày 24/8/2019 đến ngày 02/9/2019. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; ( Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 23/8/2019, Nguyễn Tuấn N đang đi ngoài đường thì có bạn tên T ( không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng số điện thoại 0936495313 gọi vào số điện thoại 0948699688 của N, rủ N đi đến chợ Hòa Bình, phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Khi đi N điều khiển xe máy Honda Vision, biển kiểm soát 29B1-99102. N đến cổng Bệnh viện B, phố Y, phường Phố Huế thì T ra đón và đưa vào nhà một người tên T1( không rõ nhân thân), ở khu vực chợ Hòa Bình( N không nhớ địa chỉ). Tại đây T bỏ ra 02 gói ma túy đá để ba người cùng sử dụng. Sau khi sử dụng, còn thừa 01 gói ma túy, T cho N, N cất gói ma túy vào trong bao thuốc là Marlbro, rồi để vào cốp để đồ phía trước xe máy. Khoảng 01 giờ 45 phút ngày 24/8/2019, N đang điều khiển xe máy đến khu vực số 3 phố Lê Đại Hành, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội thì bị tổ công tác Công an phường Lê Đại Hành phối hợp với Đại đội 1, tiểu đoàn Cảnh sát cơ động số 2 Công an thành phố Hà Nội kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, N đã tự động giao nộp 01 bao thuốc là Marlbro, bên trong có 01 gói nilon chứa tình thể màu trắng.
Cơ quan điều tra còn thu giữ của N 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A7 màu vàng và 01 xe máy Honda Vision, biển kiểm soát 29B1-99102.
Tại Bản kết luận giám định số 5521/KLGĐ-PC09 ngày 01/9/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội kết luận: tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilon thu giữ của Nguyễn Tuấn N, là ma túy loại Methamphetamin, khối lượng 0,110gam.
Đối với người đàn ông tên T1 và T đã sử dụng ma túy cùng N, N khai không biết địa chỉ, nhân thân. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, nhưng không xác định được, nên cơ quan điều tra đã tách tài liệu để tiếp tục điều tra làm rõ.
Đối với xe máy Honda Vision, biển kiểm soát 29B1-99102: quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Th ( vợ N). Chị Th không biết N tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe máy trên cho chị Th.
Tại Bản cáo trạng số 311/CT/VKS-HBT ngày 21/11/2019, VKSND quận Hai Bà Trưng đã truy tố Nguyễn Tuấn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng căn cứ lời khai thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như trong quá trình điều tra, xác định bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Xử phạt: Nguyễn Tuấn N từ 18 đến 24 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền bị cáo;
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,110 gam ma túy loại Methamphetamine+ 01 vỏ bao thuốc lá Marlboro; Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A7.
Bị cáo Nguyễn Tuấn N công nhận nội dung bản cáo trạng, lời luận tội của Viện kiểm sát là đúng hành vi bị cáo thực hiện. Bị cáo xác nhận có tội, không tranh luận gì với đại diện viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa; Căn cứ Bản kết luận giám định số 5521/KLGĐ-PC09 ngày 01/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội; Căn cứ biên bản bắt người phạm tội quả tang. Hội đồng xét xử có cơ sở để kết luận: Ngày 24/8/2019, bị cáo Nguyễn Tuấn N đã có hành vi cất giữ trái phép trong người 0,110 gam ma túy loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Khi bị cáo đi đến số 3 phố Lê Đại Hành, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội thì bị tổ công tác Công an phường Lê Đại Hành kiểm tra hành chính bắt quả tang, thu giữ ma túy.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma tuý là chất độc dược huỷ hoại sức khoẻ con người và gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác. Nhà nước đang dùng mọi biên pháp để ngăn chặn tệ nạn ma túy. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật cấm, nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi. Hành vi của bị cáo xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét thấy bị cáo Nguyễn Tuấn N là đối tượng nghiện ma túy, nếu để bị cáo cải tạo ngoài xã hội sẽ làm mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm về ma túy.
Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng đề nghị xét xử bị cáo với tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo mắc nghiện ma túy, không có nghề nghiệp nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Xử lý vật chứng: 0,110 gam ma túy loại Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Tuấn N ( đựng trong 01 bì giấy trong đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo), là chất gây nghiện bị cấm lưu hành. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A7 thu giữ của bị cáo: xét thấy không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ; khoản 1, mục I phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ; khoản 1, mục I phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Xử phạt Nguyễn Tuấn N 16(Mười sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/8/2019 đến ngày 02/9/2019.
Hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền bị cáo.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Nguyễn Tuấn N.
Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A7 màu vàng, imei1: 35682507109558, imei2: 356850071095556 bị vỡ mặt lưng điện thoại.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 28/11/2019).
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; -VKSND Q. Hai Bà Trưng; - THA Q. Hai Bà Trưng; - Công an Q. Hai Bà Trưng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán Hoàng Liên Sơn |