- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN C - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 274/2019/HS - ST Ngày 17 – 10 – 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Thúy Hoa
Bà Nguyễn Thị Tú Oanh
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Quyên - Thư ký Toà án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Việt Bắc– Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 17/10/2019 tại Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 266/2019/TLST-HS ngày 26/9/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn C (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 10 tháng 02 năm 1985, tại tỉnh Hà Nam;
Nơi ĐKHKTT: Xóm 2, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam
Nơi cư trú: Đường N, P. T, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk
Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1958; Con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1961. Hiện đều trú tại: Buôn Đ, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; bị cáo có vợ là Trần Thị C, sinh năm 1999, bị cáo có 01 con sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không;
Ngày 11/5/2019 phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Ngày 21/7/2019, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/7/2019 cho đến nay.
Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Ông Trương Đình C (Đã chết)
Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Trương Vĩnh T – sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
01. Ông Nguyễn Thanh H – Sinh năm 1971
Địa chỉ: Đường P, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt
* Người làm chứng:
01. Ông Cao H – Sinh năm 1975
Địa chỉ: Thôn 3, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt
02. Bà Phạm Thị Y – Sinh năm 1969
Địa chỉ: Khu tập thể công ty phân bón S, thôn 4, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn C đã có giấy phép lái xe ô tô hạng D do Sở giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 29 tháng 01 năm 2019, có giá trị đến ngày 29 tháng 01 năm 2024. Ngày 10 tháng 4 năm 2019, Nguyễn Văn C ký hợp đồng lái xe ôtô khách cho nhà xe T, địa chỉ: Đường L, P. T1, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thuộc chi nhánh Hợp tác xã vận tải ô tô P, địa chỉ: Đường H, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk do ông Nguyễn Thanh H làm chủ. Nguyễn Văn C được ông Nguyễn Thanh H giao điều khiển xe ôtô khách biển số 47B-021.03, nhãn hiệu: THACO, màu sơn trắng đỏ, loại xe ôtô khách 29 chỗ ngồi chạy tuyến cố định thành phố B, đi huyện K, tỉnh Đắk Lắk và ngược lại. Khoảng 5 giờ 30 phút ngày 11 tháng 5 năm 2019, Nguyễn Văn C điều khiển xe ô tô biển số 47B-021.03 chở khách như thường lệ đi từ nhà xe “T” tại địa chỉ: Đường L, P. T1, thành phố B đến huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Sau đó, C điều khiển xe chở 10 hành khách đi từ Bến xe khách huyện K về lại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 10 giờ 35 phút cùng ngày, Nguyễn Văn C điều khiển xe lưu thông ở làn giữa thuộc phần đường bên phải đường Quốc lộ 14 theo hướng từ thị xã B về trung tâm thành phố B, tỉnh Đắk Lắk với tốc độ khoảng 85 km/h. Đây là đoạn đường đôi thẳng, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, chia thành hai phần đường bằng dải phân cách cố định bằng bê tông trồng cỏ, phần đường bên phải theo hướng từ thị xã B về trung tâm thành phố B rộng 11m và được chia thành ba làn đường bằng vạch sơn trắng nét đơn đứt quãng. Làn đường bên phải rộng 3,15m, làn đường giữa rộng 3,8m, làn đường bên trái rộng 4,05m, trời lúc này nắng và đường vắng người qua lại. Khi lưu thông đến gần trước trụ điện số 36, nơi giao nhau giữa đường Quốc lộ 14 với đường liên xã E, thuộc thôn 1, xã E, thành phố B, thì Nguyễn Văn C nhìn thấy xe mô tô biển số: 47R3-4041, do ông Trương Đình C (sinh năm 1952, trú tại: Thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk), điều khiển chuyển hướng từ làn đường bên phải sang làn đường giữa phía trước, cùng chiều. Lúc này, Nguyễn Văn C không giảm tốc độ khi vào đường giao nhau cùng mức và không xử lý kịp nên để phía trước đầu xe ô tô biển số: 47B-021.03 tông vào phía sau đuôi xe mô tô biển số: 47R3-4041, do ông Trương Đình C điều khiển, làm người ông C ngã trên mặt đường bị bánh xe trước và sau bên phải xe ô tô biển số: 47B-021.03 cán qua người ông C, xe ô tô 47B-021.03 tiếp tục đi về trước khoảng 30m thì mới dừng lại trên mặt đường, còn xe mô tô biển số 47R3-4041 bị đẩy trượt hướng sang phải khoảng 50m rồi dừng lại ở mép đường bên phải. Ông Trương Đình C được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa T thì tử vong.
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn: Xảy ra tại trước trụ điện số 36, ngã tư nơi giao nhau giữa đường Quốc lộ 14 với đường liên xã E, thuộc thôn 1, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đường Quốc lộ 14 là đoạn đường đôi thẳng, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng được chia thành hai phần đường bằng dải phân cách cố định bằng bê tông trồng cỏ, phần đường bên phải theo hướng từ thị xã B về đường 10/3, thành phố B rộng 11m và được chia thành ba làn đường bằng vạch sơn trắng nét đơn đứt quãng. Làn đường bên phải rộng 3,15m, làn đường giữa rộng 3,8m, làn đường bên trái rộng 4,05m. Đường liên xã E theo hướng từ thị xã B về đường 10/3, thành phố B, có mặt đường phía bên phải hướng vào buôn J, xã E, thành phố B được trải nhựa bằng phẳng rộng 4m, phía bên trái hướng vào thôn 1, xã E, thành phố B, rộng 3m. Các góc nơi giao nhau mở rộng hình vòng cung, khu vực hiện trường không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn của người tham gia giao thông. Quá trình khám nghiệm chọn mép đường bên phải đường Quốc lộ 14 theo hướng từ thị xã B về đường 10/3, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk làm mép đường chuẩn. Chọn gốc trụ điện số 36, ngã tư nơi giao nhau giữa đường Quốc lộ 14 với đường liên xã E, thuộc thôn 1, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, làm mốc cố định.
Xe ô tô biển số 47B-021.03 (ký hiệu 1): Do Nguyễn Văn C điều khiển, lưu thông trên phần đường bên phải đường Quốc lộ 14 theo hướng từ thị xã B về đường 10/3, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Sau tai nạn, xe đỗ ở làn đường giữa, đầu xe quay về hướng Tây Nam, đuôi xe quay về hướng Đông Bắc. Trục bánh xe trước bên phải cách mép đường chuẩn là 4,15m, trục bánh xe sau bên phải cách mép đường chuẩn là 4,25m và cách mốc cố định về hướng Đông Bắc là 49,8m. Trục bánh sau bên trái cách đầu dải phân cách cố định gần nhất về hướng Đông là 20,5m và cách mép đường giả định bên trái của đường vào buôn J theo hướng từ đường Quốc lộ 14 vào buôn J, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk là 37m.
Xe mô tô biển số 47R3-4041 (ký hiệu 2): Do ông Trương Đình C điều khiển, lưu thông phía trước, cùng chiều với xe (1). Sau tai nạn, xe ngã sang trái, đầu xe quay về hướng Đông Nam, đuôi xe quay về hướng Tây Bắc, trục bánh xe trước cách mép đường chuẩn là 0,6m và cách trục bánh sau bên phải xe (1) là 4,15m, trục bánh xe sau đo vào mép đường chuẩn là 0,6m.
Dấu vết để lại tại hiện trường:
- Vết cày xước (3), đứt quãng, kích thước (54,20 x 0,40)m, tâm đầu vết cách mép đường chuẩn 6,20m và cách mốc cố định là 10m, tâm cuối vết tại gác chân trước bên trái xe (2) tiếp giáp với mặt đường ở vị trí xe ngã.
- Vết màu nâu đỏ (nghi máu), kích thước (0,10 x 0,10)m, tâm vết cách mép đường chuẩn là 4,15m và cách tâm trục bánh sau bên phải xe (1) là 24,70m và cách mép đường giả định bên phải đường vào thôn 1, xã E, thành phố B, theo hướng từ đường Quốc lộ 14 về thôn 1, xã E, là 3m.
- Vị trí va chạm đầu tiên: Giữa xe ô tô biển số 47B-021.03 (1) với xe mô tô biển số 47R3-4041(2) được xác định tương ứng trên mặt đường Quốc lộ 14, ngã tư nơi giao nhau giữa đường Quốc lộ 14 với đường liên xã E, thuộc thôn 1, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk: Cách mép đường chuẩn là 6m75, cách đầu vết (3) là 1m40 và cách mốc cố định là 10m90.
Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã tạm giữ: 01 xe ô tô biển số: 47B-021.03, nhãn hiệu THACO, loại xe ô tô khách, số loại HB73S-H140, màu trắng, số máy: D4DDHJ645810, số khung: RN5B29SHKHC010392; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu nâu đen, biển số: 47R3-4041. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ 01giấy phép lái xe số: 350114000518, hạng D của Nguyễn Văn C, do Sở giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 29/01/2019; 01 giấy chứng nhận kiểm định và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe ô tô biển số: 47B-021.03.
Ngày 11/5/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã ra Quyết định trưng cầu giám định nguyên nhân tử vong của ông Trương Đình C. Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 209/TTh-TTPY ngày 31/5/2019, của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận nguyên nhân tử vong của ông Trương Đình C: Choáng chấn thương do chấn thương ngực (Dập phổi)/ Nhiều chấn thương nặng do tai nạn giao thông.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 217/KLĐG ngày 20 tháng 8 năm 2019, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, kết luận: Chi phí sửa chữa thay thế phụ tùng xe môtô nhãn hiệu Honda Lead, màu nâu đen, biển số: 47R3-4041, cụ thể: Ép bộ khung xường xe: 2.615.000 đồng; Thay bộ giàn áo (nhựa): 3.650.000 đồng; Thay cảng sau: 590.000 đồng; Thay nhún sau (bộ giảm sóc): 670.000 đồng; Thay bộ đèn lái sau: 1.395.000 đồng; Thay bộ tem xe: 340.000 đồng; Thay tay phanh (bên trái): 90.000 đồng; Thay thùng đựng đồ: 495.000 đồng; Thay đèn soi BS: 170.000 đồng; Thay thùng đựng xăng (lớn): 790.000 đồng; Thay bộ bi chén cổ: 240.000 đồng; Thay 02 gác chân sau: 300.000 đồng; Thay bộ cụm lọc gió: 290.000 đồng; Thay bộ khung bảo vệ xe inox: 750.000 đồng; Ép chấn 3 + 2 ty: 240.000 đồng; Công thợ tháo lắp: 950.000 đồng. Tổng giá trị sửa chữa thay thế phụ tùng, thiệt hại của xe mô tô 47R3-4041 là: 13.575.000 đồng (mười ba triệu năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, anh Trương Vĩnh T (sinh năm 1982, trú tại: Thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, là con ruột ông Trương Đình C), là người đại diện hợp pháp kê khai và yêu cầu bồi thường tổng số tiền là: 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Trong đó:
- Tiền chi phí mai táng: 50.000.000 đồng.
- Tiền chi phí sửa chữa, thay thế phụ tùng xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu nâu đen, biển số 47R3-4041 là 13.575.000 đồng
- Tiền tổn thất về tinh thần là 86.425.000 đồng.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Văn C đã tự nguyện bồi thường số tiền 50.000.000 đồng và ông Nguyễn Thanh H (sinh năm 1971, trú tại: Đường P, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, là người được chủ xe ô tô biển số: 47B-021.03 ủy quyền), đã bồi thường số tiền 100.000.000 đồng cho gia đình nạn nhân ông Trương Đình C. Tổng số tiền Nguyễn Văn C và ông H đã bồi thường là 150.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, anh Trương Vĩnh T, đã làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Văn C và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Quá trình điều tra xác định: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu nâu đen, biển số: 47R3-4041, do ông Trương Đình C là chủ sở hữu. Ngày 28/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe mô tô cho anh Trương Vĩnh T (là người đại diện hợp pháp của gia đình ông Trương Đình C), nhận quản lý, sử dụng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với hiện trường xảy ra tai nạn và các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 283/CT-VKS TP.BMT ngày 24/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận hành vi phạm tội đúng như đã khai nhận tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp. Buôn Ma Thuột và phù hợp với nội dung truy tố tại bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn C và giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng số 283/CT-VKS TP.BMT ngày 24/9/2019. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C với mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
* Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585 và Điều 591 của Bộ luật dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử trả cho ông Nguyễn Thanh H chiếc xe ô tô biển số: 47B-021.03, nhãn hiệu THACO, loại xe ô tô khách, số loại HB73S-H140, màu trắng, số máy: D4DDHJ645810, số khung: RN5B29SHKHC010392; 01 giấy chứng nhận kiểm định và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe ô tô biển số: 47B-021.03, do vợ chồng chị Lê Thị Thanh H (sinh năm 1995, trú tại: Tổ dân phố 5, phường T1, thành phố B) là chủ sở hữu. Ngày 10 tháng 4 năm 2019, vợ chồng chị H đã ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh H (sinh năm 1971, trú tại: Đường P, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk), được toàn quyền quyết định trong việc quản lý, điều hành hoạt động của xe ô tô và giải quyết những rủi ro từ việc ủy quyền.
Đề nghị Hội đồng xét xử trả cho bị cáo Nguyễn Văn C 01 giấy phép lái xe số: 350114000518, hạng D do Sở giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 29/01/2019.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu nâu đen, biển số: 47R3-4041 cho anh Trương Vĩnh T (là người đại diện hợp pháp của gia đình ông Trương Đình C), nhận quản lý, sử dụng.
- Về phần dân sự: Đề nghị chấp nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo Nguyễn Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh H đã bồi thường cho gia đình người bị hại tổng số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), gia đình người bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn C tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 10 giờ 35 phút ngày 11/5/2019, Nguyễn Văn C điều khiển xe ô tô biển số: 47B-021.03, nhãn hiệu THACO, loại xe ô tô khách, màu trắng, số máy: D4DDHJ645810, số khung: RN5B29SHKHC010392, lưu thông trên đường Quốc lộ 14 hướng từ thị xã B đến thành phố B. Khi lưu thông đến nơi giao nhau giữa đường Quốc lộ 14 với đường liên xã E, thuộc thôn 1, xã E, thành phố B, Nguyễn Văn C điều khiển xe ô tô chạy với tốc độ khoảng 85km/h, không giảm tốc độ và không giữ khoảng cách an toàn với xe mô tô đi liền phía trước nên để phía trước đầu xe ô tô biển số: 47B-021.03 tông vào phía sau đuôi xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển số: 47R3-4041, do ông Trương Đình C điều khiển lưu thông chuyển hướng phía trước, cùng chiều, gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả ông Trương Đình C tử vong khi đi cấp cứu tại Bệnh viện T, tỉnh Đắk Lắk.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã vi phạm khoản 3 Điều 5, khoản 1 Điều 12 Thông tư 91 ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông vận tải và khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ và phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự
Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a) Làm chết người;
…………....”
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là công dân có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân trong cuộc sống và biết được rằng tính mạng sức khỏe của con người là vốn quý, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, xuất phát từ sự chủ quan nên khi điều khiển xe qua nơi giao nhau bị cáo đã thiếu quan sát, không làm chủ tốc độ nên đã gây ra tại nạn làm ông Trương Đình C tử vong. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tình hình an ninh trật tự công cộng, an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác. Do đó cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi vi phạm và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tích cực tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả và được người đại diện hợp pháp của người bị hại bãi nại, đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Qua xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng tặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện theo quy định cũng đảm bảo được tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo cũng như đảm bảo tính phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585 và Điều 591 của Bộ luật dân sự.
* Về xử lý vật chứng: Trả cho ông Nguyễn Thanh H chiếc xe ô tô biển số: 47B-021.03, nhãn hiệu THACO, loại xe ô tô khách, số loại HB73S-H140, màu trắng, số máy: D4DDHJ645810, số khung: RN5B29SHKHC010392; 01 giấy chứng nhận kiểm định và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe ô tô biển số: 47B-021.03, do vợ chồng chị Lê Thị Thanh H (sinh năm 1995, trú tại: Tổ dân phố 5, phường T1, thành phố B) là chủ sở hữu. Ngày 10 tháng 4 năm 2019, vợ chồng chị H đã ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh H (sinh năm 1971, trú tại: Đường P, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk), được toàn quyền quyết định trong việc quản lý, điều hành hoạt động của xe ô tô và giải quyết những rủi ro từ việc ủy quyền.
Trả cho bị cáo Nguyễn Văn C 01 giấy phép lái xe số: 350114000518, hạng D do Sở giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 29/01/2019.
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu nâu đen, biển số: 47R3-4041 cho anh Trương Vĩnh T (là người đại diện hợp pháp của gia đình ông Trương Đình C), nhận quản lý, sử dụng.
- Về phần dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo Nguyễn Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh H đã bồi thường cho gia đình người bị hại tổng số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), gia đình người bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Tp. Buôn Ma Thuột; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không xuất trình thêm chứng cứ, tài liệu gì, bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho UBND P. T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giám sát giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự để giải quyết.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS
* Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585 và Điều 591 của Bộ luật dân sự.
- Trả cho ông Nguyễn Thanh H chiếc xe ô tô biển số: 47B-021.03, nhãn hiệu THACO, loại xe ô tô khách, số loại HB73S-H140, màu trắng, số máy: D4DDHJ645810, số khung: RN5B29SHKHC010392; 01 giấy chứng nhận kiểm định và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe ô tô biển số: 47B-021.03, do vợ chồng chị Lê Thị Thanh H (sinh năm 1995, trú tại: Tổ dân phố 5, phường T1, thành phố B) là chủ sở hữu. Do ngày 10 tháng 4 năm 2019, vợ chồng chị H đã ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh H (sinh năm 1971, trú tại: Đường P, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk), được toàn quyền quyết định trong việc quản lý, điều hành hoạt động của xe ô tô và giải quyết những rủi ro từ việc ủy quyền.
- Trả cho bị cáo Nguyễn Văn C 01 giấy phép lái xe số: 350114000518, hạng D do Sở giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 29/01/2019.
- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu nâu đen, biển số: 47R3-4041 cho anh Trương Vĩnh T (là người đại diện hợp pháp của gia đình ông Trương Đình C), nhận quản lý, sử dụng.
- Về phần dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo Nguyễn Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh H đã bồi thường cho gia đình người bị hại tổng số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), gia đình người bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tối cao ; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Tp. Buôn Ma Thuột; - Công an Tp. Buôn Ma Thuột; - Chi cục THADS Tp. B; - Cơ quan THA phạt tù; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - UBND P. T; - Bị cáo; Các đương sự; - Chánh án TAND Tp. Buôn Ma Thuột; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Văn phòng TAND Tp BMT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Thị Thu Trang |