vanban.org

Bản án 273/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 24/06/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/06/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo c a ị cáo Đặng Quang P; Giữ nguyên ản án hình sự sơ thẩm số 2 2024 HS-ST ngày 11 3 2024 c a Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Quang P - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? ộ luật Tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 273/2024/HS-PT
Ngày: 24-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Tự

Các Thẩm phán:

ông Trương Công Thi

ông Trần Đức Kiên

- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Ngọc Gia Linh, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Đặng Thọ Định, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, mở phiên tòa trực tuyến xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 213 2024 TLPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối v i ị cáo Đặng Quang P về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Do c kháng cáo c a ị cáo đối v i ản án hình sự sơ thẩm số 2 2024 HS-ST ngày 11 3 2024 c a Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Đặng Quang P; sinh ngày 12 tháng 12 năm 1997 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn T, huyện L, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9 12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Ngọc K và à Lê Thị H; vợ con: Chưa c ; tiền án, tiền sự: Không;

ị cáo ị tạm giam từ ngày 09 8 2023 đến nay, c mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 02 2023, Đặng Quang P liên lạc v i một người tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) ở Thành phố Hồ Chí Minh để mua các loại ma túy “kẹo”, “khay” và “đá” v i số tiền .000.000 đồng, P chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho T (P không nh số tài khoản), đồng thời đưa số điện thoại c a P (096 247137) và địa chỉ nhận ma túy. Sau đ , T gửi hàng cho P nhận và đem về nhà ở thôn T, huyện L cất giữ. P thuê Nguyễn Công Đ đi án ma túy cho P và P trả tiền công cho Đ hoặc cho ma túy để Đ sử dụng. Đ đã án ma túy 0 lần cho nhiều người, cụ thể:

Lần 1. Ngày 18 02 2023, Võ Văn S liên lạc v i P hỏi mua 02 (hai) chấm ma túy, P đồng ý và gửi số điện thoại c a Đ cho S để S liên lạc v i Đ giao dịch mua ma túy; sau đ Đ đem 02 (hai) chấm ma túy “khay” án cho S v i giá 2.000.000 đồng và đem tiền về giao lại cho P.

Lần 2. Vào khoảng tháng 3 2023, Đ án ma túy cho Lê Văn S1 01 (một) túi ma túy “đá” v i số tiền 300.000 đồng và đem tiền về giao lại cho P.

Lần 3. Ngày 10 2023, Đ án ma túy cho Dương Quang K1 01 (một) đoạn ống hút chứa ma túy “đá” v i số tiền 00.000 đồng và đem tiền về giao lại cho P.

Lần 4. Ngày 1 2023, Đ án ma túy cho Trương Đình H1 gồm: 06 (sáu) viên ma túy “kẹo” và 02 (hai) chấm ma túy “khay” v i giá 6.000.000 đồng; H1 chuyển khoản cho Đ 6.000.000 đồng, Đ chuyển khoản cho P . 00.00 đồng vào tài khoản c a P; Đ lấy tiền công án ma túy là 00.000 đồng.

Lần . Ngày 12 6 2023, Đ tiếp tục án ma túy cho H1, gồm: 04 ( ốn) viên ma túy “kẹo” và 02 (hai) chấm ma túy “khay” v i số tiền .000.000 đồng; H1 chuyển khoản cho Đ .000.000 đồng; Đ chuyển khoản cho P 4. 00.000 đồng, Đ lấy tiền công án ma túy 00.000 đồng.

Đến tháng 06 2023, P tiếp tục liên lạc v i T để mua 10.000.000 đồng ma túy “đá” và 10.000.000 đồng ma túy “khay”, P chuyển khoản cho T và sau đ P nhận số 02 túi ni lông chứa số ma túy trên đem về nhà cất giữ. P lấy một ít ma túy “đá” và ma túy “khay” mỗi thứ chia vào 03 (ba) túi ni lông nhỏ chia và cất vào hộp kim loại màu đen rồi để trong hộp kim loại màu trắng. Số ma túy còn lại, P cất vào hộp kim loại màu xám (phía trên c ký hiệu hình tròn và chữ G màu xanh) rồi đem cất giấu tại ờ tường Trường Tiểu học A phía trư c nhà ở c a P nhằm mục đích để dành sử dụng.

Khoảng 19 giờ ngày 23 6/2023, Trương Đình P1 án cho P 01 tấm pin năng lượng mặt trời nhưng P không c nhà nên P1 ngồi đợi. Đến khoảng 19 giờ 1 phút cùng ngày, Lê Văn S1 đi xe môtô chở P về, P lấy hộp ma túy cất giấu tại ờ tường Trường Tiểu học A đem vào phòng ở c a P. P n i S1 đi chở Hồ Văn X đến nhà P để phụ giúp làm hồ cá. Sau đ , P vào phòng mở hộp, lấy túi ma túy “đá” đổ ra hộp kim loại c hình con ngựa một ít để sử dụng rồi P cất ma túy lại vào hộp và để trên hộc t gỗ ở đầu giường. Phụng ỏ ma túy vào ộ dụng cụ sử dụng nấu lên. Sau đ , P gọi P1 vào phòng để trả 800.000 đồng là tiền P1 án tấm Pin năng lượng mặt trời cho P. P1 thấy dụng cụ sử dụng ma túy “đá” đã c sẵn ma túy nên hỏi P cho sử dụng vài hơi, P đồng ý thì P1 lấy dụng cụ sử dụng đốt lên và sử dụng, P1 hút được vài hơi ma túy đá thì đi về.

Trư c đ , Đ c điện thoại cho P hỏi P đi chơi về chưa để ghé đến nhà P chơi, P n i c ở nhà nên Đ r Trương Đình P2 đến nhà P; P2 điều khiển xe mô tô Honda SH12 i, iển số 76T1-069.01 đến nhà P. Sau đ , Lê Văn S1 cũng chở Hồ Văn X đến nhà P. Lúc này tại phòng c a P c P, Đ, X, S1 và Trương Đình P2. Tại đây, P n i X lấy ma túy trong hộp kim loại c hình con ngựa ỏ vào ộ dụng cụ sử dụng ma túy để sử dụng. X lấy ma túy ra và dùng kẹp gắp ma túy cho vào phểu c a nỏ th y tinh được gắn trên ộ dụng cụ sử dụng ma túy và cầm ật lửa đốt dư i phểu (gọi là tiêm) để P hút trư c. Phụng hút xong thì X tiếp tục tiêm ma túy để Đ hút; Đ hút xong thì X đốt ma túy và tự mình hút; X hút xong thì tiếp tục tiêm ma túy cho S1 hút; X tiêm ma túy cho những người trên hút theo thử tự vòng tròn như trên, đến khi X hút ma túy được 03 hơi thì lên giường nằm nghỉ. Riêng Trương Đình P2 không sử dụng chỉ ngồi ấm điện thoại.

Đến khoảng 21 giờ, ngày 23 6 2023, một người tên thường gọi là T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng tài khoản mesenger tên “T1” điện thoại vào tài khoản messenger tên “Nhock lì” c a P hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy “đá”, P đồng ý và hẹn T1 tại ngã a chợ cũ huyện L, sau đ P lấy 02 (hai) túi ni lông chứa ma túy “đá” đã phân chia trư c đ đưa cho Đ, trong đ 01 (một) túi ma túy “đá” (0, 6 gam Methamphetamine) để Đ đi án cho T1; 01 (một) túi ma túy “đá” (0,23 gam Methamphetamine) P trả công cho Đ để sử dụng. Sau đ , Đ mượn xe mô tô c a P2 để đi giao ma túy. Khi Đ đi giao ma túy thì Trương Đình N, sinh năm 199 và Trương Văn P3, sinh năm 1992 đều ở thôn Đ, huyện L, tỉnh Quảng Ngãi vào phòng c a P và sử dụng ma túy “đá” c sẵn trong nỏ th y tinh trong phòng c a P.

Khoảng 21 giờ 2 cùng ngày, khi Đ chờ T1 đến ngã a chợ cũ huyện L án ma túy thì Đồn iên phòng L phát hiện, ắt quả tang.

Khoảng 21 giờ 30 cùng ngày, sau khi nghe điện thoại c a người ạn (Không rõ nhân thân, lai lịch) n i Đ đã ị ắt thì P yêu cầu các đối tượng trong phòng giải tán. Sau đ , Trương Văn P3, Trương Đình P2 và N đi về; P nhờ X và S1 ở lại giúp P dọn phòng. Phụng tháo ộ dụng cụ sử dụng ma túy ra (để trên àn), P lấy 01 hộp kim loại màu xám, phía trên c ký hiệu hình tròn và chữ “G” màu xanh, ên trong c 02 (hai) túi ni lông gồm: 01 (một) túi ma túy “đá” (39, 3 gam Methamphetamine) và 01 (một) túi ma túy “khay” (32,1 gam Ketamine) trên hộc t gỗ trên đầu giường ng trong phòng c a P xếp chồng lên hộp kim loại c hình con ngựa màu xanh xám chứa ma túy “đá” (1,64 gam Methamphetamine) và 01 (một) hộp kim loại inox màu trắng, ên trong chứa nhiều túi ni lông rỗng và 01 (một) hộp kim loại màu đen, trên nắp hộp c chữ “ZORRO” chứa 04 (bốn) túi ni lông đựng ma túy “đá” và “khay” (0 gam Methamphetamine; 2,44gam Ketamine). P n i X đưa cuộn ăng keo quấn lại, khi m i quấn được 01 đến 02 vòng thì P nghe lực lượng iên phòng đã đến sân nhà. P hoảng sợ, nên để lại trên àn, trong phòng ng c a mình và chui qua lỗ thông gi , đi ra khe giữa nhà P và nhà ông Đặng Cu . Khi đã chui ra ngoài, P nhờ S1 đưa ví da và điện thoại c a P ra ngoài cho P, S1 lấy ví da và điện thoại trên giường đưa cho P thì S1 cũng chui qua lỗ thông gi và ỏ trốn. X nghe P n i đưa các đồ vật ra ên ngoài nên cũng ném các hộp kim loại P đã xếp sẵn trên àn trang điểm, nắp chai nhựa c gắn ống hút và nỏ th y tinh (dụng cụ sử dụng ma túy trư c đ ); 01 (một) cân tiểu ty màu cam đen ra ngoài lỗ thông gi c gắn quạt hút. Sau khi ném xong, X ở trong phòng c a P cho đến khi lực lượng chức năng tiến hành khám xét khẩn cấp.

* Kết quả giám định

Tại Kết luận giám định số: 642 KL-KTHS, ngày 26 6 2023, c a Phòng K2 Công an tỉnh Q (số ma túy thu giữ từ Nguyễn Công Đ), kết luận:

+ Chất rắn dạng tinh thể màu trắng ên trong túi nilon, được đánh số 01 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng mẫu: 0,23 gam.

+ Chất rắn dạng tinh thể màu trắng ên trong túi nilon, được đánh số 02 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng mẫu: 0, 6 gam.

Tại Kết luận giám định số: 643 KL-KTHS ngày 30 6 2023, c a Phòng K2 Công an tỉnh Q (tang vật được phát hiện khi khám xét khẩn cấp chỗ ở c a Đặng Quang P), kết luận:

+ Chất lỏng màu xanh nhạt, ên trong ình th y nư c gửi giám định không tìm thấy chất ma túy; thể tích mẫu là 2,82 lít; Chất lỏng dạng sệt (dạng nhũ tương), màu xanh, một số chỗ màu nâu vàng trong một hộp kim loại được niêm phong và đánh số 08 gửi giám định, không tìm thấy chất ma túy; thể tích mẫu 90ml.

+ Chất rắn dạng tinh thể màu trắng ên trong túi nilon, được đánh số 01, 04 và 07 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng mẫu lần lượt là 39, 3 gam; ,00 gam và 1,64 gam. (tổng cộng: 46,17 gam).

+ Chất rắn dạng tinh thể màu trắng ên trong túi nilon, được đánh số 02, 03, 0 và 06 gửi giám định là ma túy; loại Ketamine; khối lượng mẫu lần lượt là: 32,1 gam; 1,76 gam; 0,34 gam và 0,34 gam. (tổng cộng: 34, 9 gam).

+ Chất rắn màu xám, ám dính ên trong một ống th y tinh gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; mẫu ở dạng vết nên không tiến hành cân khối lượng.

Tại B n án hình sự sơ thẩm số 2 /2024/HS-ST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân t nh Qu ng Ng i

uy t ịnh:

Tuyên ố ị cáo Đặng Quang P phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 1; Điều 17; Điều 8; Điều 38 ộ luật Hình sự.

Xử phạt ị cáo Đặng Quang P 12 (mười hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm khoản 2 Điều 2 1; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 1; Điều 17; Điều 8; Điều 38 ộ luật Hình sự.

Xử phạt ị cáo Đặng Quang P 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm khoản 2 Điều 2 ; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 1; Điều 17; Điều 8; Điều 38 ộ luật Hình sự.

Xử phạt ị cáo Đặng Quang P 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều

ộ luật hình sự: tổng hợp hình phạt c a 03 tội, uộc ị cáo Đặng Quang P chấp hành hình phạt chung là 29 (hai mươi chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ắt tạm giam 09 8 2023.

Ngoài ra, ản án sơ thẩm còn quyết định về phần tội danh và hình phạt c a các ị cáo khác, iện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định c a pháp luật.

Ngày 19 3 2024, ị cáo Đặng Quang P nộp đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

ị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

kiến của đại diện Viện ki m sát nhân dân cấp cao tại Đà N ng:

Tại phiên toà phúc thẩm, ị cáo không c tình tiết giảm nhẹ m i, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên ản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1 Tại phiên tòa phúc thẩm, ị cáo Đặng Quang P khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội. Lời khai c a ị cáo tại phiên toà phù hợp v i lời khai trong quá trình điều tra và phù hợp v i các tài liệu, chứng cứ khác c trong hồ sơ vụ án; c đ cơ sở kết luận:

Để c ma túy sử dụng và án lấy tiền tiêu xài, khoảng tháng 02 2023 ị cáo Đặng Quang P mua ma túy c a một người phụ nữ tên T ở Thành phố Hồ Chí Minh đem về nhà ở thôn T, huyện L, tỉnh Quảng Ngãi cất giấu, sau đ ị cáo Đặng Quang P thuê ị cáo Nguyễn Công Đ đi án ma túy 0 lần v i tổng số tiền án ma túy là 13.800.000 đồng.

Tháng 06 2023, ị cáo Đặng Quang P tiếp tục mua ma túy c a T v i số tiền 20.000.000 đồng đem về nhà, chia nhỏ ma túy để án và cất giấu để sử dụng.

Khoảng 19 giờ ngày 23 6 2023, tại phòng c a ị cáo Đặng Quang P, ị cáo Đặng Quang P chỉ cho ị cáo Hồ Văn X lấy ma túy “đá” ỏ vào ộ dụng cụ sử dụng ma túy và đốt n ng ma túy cho ị cáo cùng các đối tượng Lê Văn S1, Hồ Văn X, Nguyễn Công Đ, Trương Đình N và Trương Văn P3 sử dụng.

Khoảng 21 giờ, ngày 23 6 2023, trong lúc các ị cáo đang sử dụng ma túy thì c một người tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) liên lạc v i ị cáo Đặng Quang P để mua ma túy nên ị cáo Đặng Quang P đưa cho ị cáo Nguyễn Công Đ 02 túi ma túy loại Methamphetamine để ị cáo Nguyễn Công Đ đi giao cho T1 01 túi (0, 6 gam), còn 01 túi ị cáo Đặng Quang P trả công cho ị cáo Nguyễn Công Đ (0,23 gam), khi ị cáo Nguyễn Công Đ đang đợi giao ma túy cho T1 thì ị Công an ắt quả tang.

Khi nghe tin ị cáo Nguyễn Công Đ ị ắt, ị cáo Đặng Quang P yêu cầu mọi người ngừng sử dụng ma túy và giải tán, còn ị cáo Đặng Quang P cùng ị cáo Hồ Văn X dọn dẹp phòng, ị cáo Hồ Văn X giúp ị cáo Đặng Quang P g i ma túy và ném ra ên ngoài để ị cáo Đặng Quang P mang đi cất giấu. Tuy nhiên, ị cáo Đặng Quang P chưa kịp mang ma túy đi thì ị lực lượng iên phòng ắt quả tang thu giữ 46,17 gam Methamphetamine và 34, 9 gam Ketamine.

2 Hành vi c a ị cáo Đặng Quang P đã phạm các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm khoản 2 Điều 2 1 ộ luật Hình sự; tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm khoản 2 Điều 2

ộ luật Hình sự; tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 ộ luật Hình sự như ản án sơ thẩm đã qui kết là c căn cứ, đúng pháp luật.

3 Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a ị cáo, thấy rằng:

Quá trình giải quyết vụ án, ị cáo Đặng Quang P thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 1 ộ luật Hình sự; gia đình ị cáo c công cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 2 Điều 1 ộ luật Hình sự; ị cáo không c tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4 Khi lượng hình, Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đ các tình tiết giảm nhẹ nêu trên và xử phạt ị cáo 12 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là tương xứng v i tính chất và mức độ, hậu quả hành vi phạm tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, ị cáo không c tình tiết giảm nhẹ m i nên không c cơ sở xét giảm hình phạt.

ị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 3

ộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo c a ị cáo Đặng Quang P;

1. Giữ nguyên ản án hình sự sơ thẩm số 2 2024 HS-ST ngày 11 3 2024 c a Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

- Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 1; Điều 17; Điều 8; Điều 38 ộ luật Hình sự.

Xử phạt ị cáo Đặng Quang P 12 (mười hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm khoản 2 Điều 2 1; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 1; Điều 17; Điều 8; Điều 38 ộ luật Hình sự.

Xử phạt ị cáo Đặng Quang P 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm khoản 2 Điều 2 ; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 1; Điều 17; Điều 8; Điều 38 ộ luật Hình sự.

Xử phạt ị cáo Đặng Quang P 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều

ộ luật Hình sự: tổng hợp hình phạt c a 03 tội, uộc ị cáo Đặng Quang P chấp hành hình phạt chung là 29 (hai mươi chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ắt tạm giam 09 8 2023.

2. Án phí hình sự phúc thẩm:

ị cáo Đặng Quang P phải chịu 200.000đ.

3. Các quyết định khác c a ản án hình sự sơ thẩm không c kháng cáo, không ị kháng nghị c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

ản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ