- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam J và Nguyễn Thị B"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam J.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 273/2024/DS-ST Ngày: 10-7-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Hồng Lợi.
Ông Trần Văn Nghiệm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Huỳnh Phúc Tài, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 116/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXX-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 104/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam J (JIVF).
Địa chỉ: Lầu 15 Tòa nhà Centec, 72-74 Nguyễn Thị Minh Khai, phường V, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông TANIGUCHI N - Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Việt N1, Phó Bộ phận quản lý Công nợ.
Người được ủy quyền lại: Nguyễn Văn T, sinh năm 1980. Nhân viên JIVF.
Địa chỉ liên hệ: Lầu 15 Tòa nhà Centec, 72-74 Nguyễn Thị Minh Khai, phường V, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Nguyễn Thị B, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
(Anh T xin vắng mặt; bà B vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, đại diện ủy quyền của nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam J (JIVF) trình bày:
Ngày 16/8/2023 bà Nguyễn Thị B ký hợp đồng tín dụng số 54420004462334000 với JIVF vay tiền mua xe máy theo hình thức trả góp hàng tháng.
Số tiền vay: 34.688.000 đồng. Lãi suất: 3.1600%/tháng. Thời hạn vay: 24 tháng.
Thực hiện hợp đồng JIVF đã giải ngân số tiền trên theo thỏa thuận tại Điều 2 của Hợp đồng tín dụng và bà B đã nhận tài sản.
Theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng thì bà B có trách nhiệm thanh toán bao gồm gốc và lãi trong vòng 24 tháng, mỗi tháng bà B phải thanh toán cho JIVF số tiền là 2.095.700 đồng vào trước hoặc đúng ngày 22 hàng tháng cho đến khi kết thúc hợp đồng. Ngày thanh toán đầu tiên bắt đầu từ 22/9/2023.
Từ ngày 27/9/2023 đến ngày 30/10/2023 bà B thanh toán cho JIVF được số tiền là 4.197.131 đồng (trong đó nợ gốc: 1.811.138 đồng; lãi: 2.356.262 đồng; lãi quá hạn: 5.731 đồng; phía quản lý vay: 24.000 đồng).
Tuy nhiên, từ sau ngày 30/10/2023 đến nay, bà B không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho JIVF và cố tình lẩn tránh.
Vì vậy, việc bà B không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán đã vi phạm nghiêm trọng thỏa thuận mà hai bên đã ký kết, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của JIVF theo Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 11 hợp đồng số 54420004462334000 ngày 16/8/2023.
Nay Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam J yêu cầu:
Bà Nguyễn Thị B trả số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 10/7/2024 là 43.266.618 đồng (trong đó nợ gốc 32.876.862 đồng, lãi 8.921.882 đồng, lãi quá hạn 1.359.874 đồng, phí quản lý khoản vay 108.000 đồng).
Bà Nguyễn Thị B tiếp tục phải thanh toán cho JIVF tiền lãi phát sinh, lãi quá hạn, các loại phí sau ngày 10/7/2024 cho đến khi hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 554420004462334000 ngày 16/8/2023.
Bị đơn bà Nguyễn Thị B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà B nhưng bà B không đến Tòa án và cũng không gửi bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam J khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị B trả số tiền vay 32.876.862 đồng và tiền lãi suất, nợ phí phát sinh nên Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại địa phương nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân huyện G theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét đại diện ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T có đơn xin vắng mặt; bị đơn bà Nguyễn Thị B đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh T và bà B.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam J, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 16/8/2023 bà Nguyễn Thị B ký hợp đồng tín dụng số 54420004462334000 với JIVF vay tiền mua xe máy theo hình thức trả góp hàng tháng; số tiền vay: 34.688.000 đồng; lãi suất: 3.1600%/tháng; thời hạn vay: 24 tháng; thực hiện hợp đồng JIVF đã giải ngân số tiền trên theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và bà B đã nhận tiền vay. Theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng thì bà B có trách nhiệm thanh toán bao gồm gốc và lãi trong vòng 24 tháng, mỗi tháng anh Tâm phải thanh toán cho JIVF số tiền là 2.095.700 đồng vào trước hoặc đúng ngày 22 hàng tháng cho đến khi kết thúc hợp đồng; ngày thanh toán đầu tiên bắt đầu từ 22/9/2023. Từ ngày 27/9/2023 đến ngày 30/10/2023 bà B thanh toán cho JIVF được số tiền là 4.197.131 đồng (trong đó nợ gốc: 1.811.138 đồng; lãi: 2.356.262 đồng; lãi quá hạn: 5.731 đồng; phía quản lý vay: 24.000 đồng). Từ sau ngày 30/10/2023 đến nay, bà B không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho JIVF và cố tình lẩn tránh nên JIVF khởi kiện. Tính đến ngày 10/7/2024 bà B còn nợ JIVF số tiền vốn và lãi là 43.266.618 đồng (trong đó nợ gốc 32.876.862 đồng, lãi 8.921.882 đồng, lãi quá hạn 1.359.874 đồng, phí quản lý khoản vay 108.000 đồng).
Phía bà B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà B không đến Tòa án cũng không gởi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt tại phiên tòa, cho thấy bà B đã từ bỏ quyền chứng minh của mình. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của JIVF xin vắng mặt nhưng vẫn giữ yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà B trả cho JIVF toàn bộ số tiền vốn và lãi tính đến ngày 10/7/2024 là 43.266.618 đồng (trong đó nợ gốc 32.876.862 đồng, lãi 8.921.882 đồng, lãi quá hạn 1.359.874 đồng, phí quản lý khoản vay 108.000 đồng). Do đó, Hội đồng xét xử xác định bà B còn nợ JIVF số tiền nợ gốc 32.876.862 đồng, lãi 8.921.882 đồng, lãi quá hạn 1.359.874 đồng, phí quản lý khoản vay 108.000 đồng, bà B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho JIVF theo Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 11 hợp đồng số 54420004462334000 ngày 16/8/2023 nên buộc bà B có nghĩa vụ trả cho JIVF số tiền nợ gốc 32.876.862 đồng, lãi 8.921.882 đồng, lãi quá hạn 1.359.874 đồng, phí quản lý khoản vay 108.000 đồng, tổng cộng 43.266.618 đồng.
Về thời gian trả tiền: JIVF yêu cầu bà B trả số tiền nợ gốc 32.876.862 đồng, lãi 8.921.882 đồng, lãi quá hạn 1.359.874 đồng, phí quản lý khoản vay 108.000 đồng, tổng cộng 43.266.618 đồng và tiếp tục chịu lãi suất và phí phát sinh sau ngày 10/7/2024 là có cơ sở chấp nhận vì bà B vi phạm nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của JIVF nên Hội đồng xét xử buộc anh B có nghĩa vụ trả cho JIVF số tiền nợ 38.265.200 đồng, lãi trong hạn 11.121.379 đồng, lãi quá hạn 1.397.882 đồng, phí quản lý khoản vay 108.000 đồng, tổng cộng 43.266.618 đồng và tiếp tục chịu lãi suất và phí phát sinh sau ngày 10/7/2024.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam J được Tòa án chấp nhận nên bà B phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào Điều 90, Điều 91, Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam J.
Buộc bà Nguyễn Thị B có nghĩa vụ trả cho Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam J số tiền nợ gốc 32.876.862 đồng, lãi 8.921.882 đồng, lãi quá hạn 1.359.874 đồng, phí quản lý khoản vay 108.000 đồng, tổng cộng 43.266.618 đồng (Bốn mươi ba triệu hai trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm mười tám đồng).
Kể từ ngày 10/7/2024 bà Nguyễn Thị B tiếp tục chịu lãi và phí phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 54420004462334000 ngày 16/8/2023.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị B phải chịu 2.163.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam J số tiền 904.900 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009380 ngày 15/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G.
Báo đại diện ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TG; - VKSND huyện G; - CC THADS huyện G; - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Võ Thị Xuân |