vanban.org

Bản án 273/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/4/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 273/2023/HSST
Ngày 14-11-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:

Ông Nguyễn Anh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Mai.

2. Bà Châu Thị Lệ.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Diệp – Thư ký Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hải Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại Phòng xử án Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh – Số 416/2 đường Dương Quảng Hàm, Phường 5, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 269/2023/HSST ngày 18/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 313/2023/QĐXXST-HS ngày 30/10/2023 đối với bị cáo:

Đặng Hoàng T; Sinh năm 1990, tại Tp. Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số X đường X2, Phường X3, Quận X4, Tp. Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số X5 đường X6, Phường X7, quận G9, Tp. Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn K (chết) và bà Võ Thị Ngọc T2; Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

-Ngày 29/9/2009 bị Tòa án nhân dân quận G9, Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội cướp giật tài sản và 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành hình phạt tù xong ngày 10/11/2012, chấp hành nghĩa vụ nộp tiền sung quỹ Nhà nước và án phí ngày 08/4/2010.

-Ngày 27/7/2017 bị Tòa án nhân dân quận O, Tp. Hồ Chí Minh quyết định áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 09/12/2018.

-Ngày 23/4/2019 bị Tòa án nhân dân quận O, Tp. Hồ Chí Minh quyết định áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng, chấp hành xong ngày 13/02/2021.

Bị bắt giam từ ngày 28/4/2023 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 27/04/2023, tại trước số nhà Y Đường số 2, Phường X7, quận G9, Tp. Hồ Chí Minh, Tổ tuần tra Công an Phường X7, quận G9 phát hiện Đặng Hoàng T đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên kiếm tra, phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của Đặng Hoàng T có 03 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu (Đặng Hoàng T khai là ma túy) nên Tổ tuần tra đã thu giữ, niêm phong đưa về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Quá trình điều tra xác định: Ngày 27/4/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy tổng hợp (ma túy đá) nên Đặng Hoàng T sử dụng số điện thoại 0765511013 gọi điện thoại cho một đối tượng nam thanh niên tên T3 (không rõ lai lịch) hỏi mua ma túy đá với giá tiền 200.000 đồng. T3 hẹn Đặng Hoàng T giao ma túy và nhận tiền tại trước khu vực nhà số Y3 đường Y4, Phường 6, quận G9, Tp. Hồ Chí Minh. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, T đi bộ đến điểm hẹn gặp T3 mua được 03 gói nylon bên trong có ma túy tổng hợp (ma túy đá). Sau khi mua được ma túy, Đặng Hoàng T cất giấu trong túi quần Jean phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà, khi đi đến trước số nhà Y đường số 2, Phường 3, quận G9, Tp. Hồ Chí Minh thì bị Tổ tuần tra Công an phường X7, quận G9 kiểm tra, phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ:

-01 gói nylon chứa tinh thể không màu tất cả được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đặng Hoàng T và hình dấu của Công an Phường X7, quận G9. Tại Bản Kết luận giám định số 4463/KL-KTHS ngày 05/5/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Tp. Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 0,8410 gam, loại Methamphetamine.

-01 (một) điện thoại di động Samsung có gắn số sim 0765511013;

Tại Cơ quan điều tra, Công an quận G9, Tp. Hồ Chí Minh, Đặng Hoàng T đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 258/CT-VKS-QGV ngày 04/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận G9, Tp. Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đặng Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận G9, Tp. Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để áp dụng đối với bị cáo và đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Hoàng T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đề nghị xử lý vật chứng:

-Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đặng Hoàng T và hình dấu của Công an Phường X7, quận G9 cùng chữ ký của Giám định viên, cán bộ Công an quận G9 bên trong có chứa ma túy tổng hợp còn lại sau giám định;

-Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Samsung có gắn số sim 0765511013.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G9, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận G9, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

. Lời khai nhận tội của bị cáo Đặng Hoàng T tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thừa nhận hành vi đã cất giấu số lượng ma túy có khối lượng 0,8410 gam, loại Methamphetamine và bị Công an Phường 3, quận G9 bắt quả tang vào lúc 22 giờ 00 phút, ngày 27/4/2023 tại trước địa chỉ số Y Đường số 2, Phường X7, quận G9, đủ cơ sở xác định bị cáo Đặng Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Việc truy tố, luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận G9, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, ma túy còn là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy và đường lối xử lý của pháp luật rất nghiêm nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên đã bất chấp, cố ý phạm tội. Bị cáo đã bị áp dụng chấp hành hình phạt tù và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học để cải tạo bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5, Điều 249 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

. Đối với thanh niên tên T3 người đã bán ma túy cho Đặng Hoàng T, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa có cơ sở để xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, nếu xác định đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

. Về xử lý vật chứng:

. Đối với 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đặng Hoàng T và hình dấu của Công an Phường X7, quận G9 cùng chữ ký của Giám định viên, cán bộ Công an quận G9 bên trong có chứa ma túy tổng hợp còn lại sau giám định, là ma túy, vật Nhà nước cấm lưu hành và sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

. Đối với 01 (một) điện thoại di động Samsung có gắn số sim 0765511013. Xét thấy, là tài sản của bị cáo Đặng Hoàng T, bị cáo dùng làm để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

. Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

. Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đặng Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng T 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 28/4/2023.

- Căn cứ Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

+Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đặng Hoàng T và hình dấu của Công an Phường X7, quận G9 cùng chữ ký của Giám định viên, cán bộ Công an quận G9 bên trong có chứa ma túy tổng hợp còn lại sau giám định;

+Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Samsung có gắn số sim 0765511013.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 151/PNK ngày 18/7/2023 của Công an quận G9, Thành phố Hồ Chí Minh).

Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ