- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc T và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 273/2022/HS-ST Ngày: 15-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Minh Hiền.
Các Hội thẩmnhân dân: Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn và bà Trần Thị Thanh Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thuận, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cảm, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 244/2022/HSST ngày 11 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 361/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Quốc T (tên gọi khác: L), sinh ngày 26/11/1988, tại tỉnh T; Nơi cư trú: Thôn T, xã M, thành phố H, tỉnh T; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc C, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1962; vợ: Lê Thị S, sinh năm 1987; con: có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Đ, sinh ngày 01/01/1953, tại tỉnh T; Nơi cư trú: Thôn T, xã M, thành phố H, tỉnh T; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Không biết chữ; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T (đã chết) và bà : Nguyễn Thị M (đã chết); vợ: Trần Thị X, sinh năm 1958; có 07 con, lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1991.
* Quá trình nhân thân.
- Năm 1975, bị Công an tỉnh T bắt tập trung cải tạo về tội hình sự;
- Năm 1981, bị Công an tỉnh T bắt về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”;
- Năm 1982, bị Công an tỉnh T bắt về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”;
- Ngày 10/9/2019, bị Uỷ ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh T xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc”;
- Ngày 03/12/2019, bị Công an xã M, thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc”.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
3. Họ và tên: Đinh Hoàng D, sinh ngày 15/3/1991, tại tỉnh T; Nơi cư trú: Thôn T, xã M, thành phố H, tỉnh T; nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ học vấn: 11/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Hữu C, sinh năm 1956 và bà Hồ Thị Y, sinh năm 1957; vợ: Trần Thị Hoài L, sinh năm 1991; con: có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 11/3/2022, Trần Quốc T, Nguyễn Tiến T, Đinh Hoàng D và Nguyễn Đ đang có hành vi đánh bạc sử dụng bài tú lơ khơ để đánh xì tẩy thắng thua bằng tiền tại nhà của Trần Quốc T. Đến 14 giờ 15 phút cùng ngày, Công an xã M kiểm tra, phát hiện 04 (bốn) đối tượng trên đang đánh bạc nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 11.200.000 đồng (mười một triệu hai trăm nghìn đồng), một đĩa sứ màu trắng, một bộ bài Tú lơ khơ đã qua sử dụng. Ngoài ra, thu giữ trên người của Trần Quốc T số tiền 3.000.000 đồng, thu giữ trên người của Đinh Hoàng D số tiền 5.000.000 đồng, thu giữ trên người của Nguyễn Đ số tiền 1.250.000 đồng và thu trên người của Nguyễn Tiến T số tiền 4.000.000 đồng.
Cách thức đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Xì tẩy”, thắng thua bằng tiền được các đối tượng thống nhất cụ thể như sau:
Sử dụng bộ bài Tú lơ khơ, lấy các lá bài từ 8 đến A (xì) để đánh, còn các lá bài từ 2 đến 7 thì bỏ. Tẩy là số tiền quy định người đánh chính phải bỏ ra từ đầu để đánh từ 50.000 đồng đến 500.000 đồng. Quá trình đánh, người đánh chỉ đặt cược cao nhất bằng tẩy và số tiền thắng chứ không được bỏ thêm tẩy (Đang chơi giữa chừng không có quyền thêm tẩy), khi nào thua hết tẩy thì được phép bỏ tiếp tẩy.
Đi mậu là lần đầu chia 2 lá bài, trong đó một lá úp một lá ngửa. Người đánh xem bài, ai muốn theo thì bỏ 20.000 đồng tiền cược, ai không muốn theo thì không chơi nữa và không đặt tiền.
Từ vòng chia bài thứ 2, 3, 4 thì mỗi vòng chia thêm 1 lá bài ngửa và được tố.
Tố là khi xem bài ngửa (từ khi bốc lá bài thứ 3 trở đi cho đến lá bài thứ 5), bài ai nổi lớn nhất có quyền thêm tiền cược, ai muốn theo thì bỏ số tiền tương ứng, ai không muốn theo thì nghỉ chơi và mất số tiền cược trước đó.
Xõa là cược hết số tiền mỗi người đang có trên chiếu bạc (gồm tiền bỏ tẩy và tiền thắng, thua trong quá trình đánh).
Các trường hợp xét thắng, thua:
+ Trường hợp thứ 1: Người đánh bỏ cuộc hết thì người còn lại sẽ thắng;
+ Trường hợp thứ 2: Khi chia bài đến vòng thứ 4 được 5 lá bài, nếu còn từ 2 người trở lên sẽ lật hết bài ra kiểm tra bài ai lớn ăn hết (theo thứ tự: Tứ quý, phi li, suốt, xẩu, sam, hai đôi, đôi...).
Trong quá trình đánh bạc của 04 đối tượng trên không thực hiện việc thu tiền xâu.
Kết quả điều tra xác định vị trí, vai trò và số tiền các đối tượng dùng đánh bạc như sau:
Đinh Hoàng D, Nguyễn Đ và Nguyễn Tiến T rủ nhau đến nhà của Trần Quốc T đánh bài xì tẩy thắng thua bằng tiền, Trần Quốc T là người cung cấp địa điểm, đĩa sứ và 01 bộ bài tú lơ khơ để cùng nhau đánh bạc. Quá trình điều tra, các đối tượng khai nhận không nhớ cụ thể số tiền mà mình bỏ ra để đánh bạc là bao nhiêu, chỉ nhớ rõ số tiền cất trong người để lo việc gia đình. Quá trình đánh có người thắng, có người thua nhưng không đáng kể, chỉ nhớ rõ khi bắt quả tang thì thu giữ tại vị trí ngồi của Trần Quốc T số tiền 1.500.000 đồng, thu giữ tại vị trí ngồi của Đình Hoàng Dũng số tiền 2.700.000 đồng; thu giữ tại vị trí ngồi của Nguyễn Đ số tiền 1.000.000 đồng; thu giữ tại vị trí ngồi của Nguyễn Tiến T số tiền 6.000.000 đồng.
Như vậy, tang số (tổng số tiền) dùng đánh bạc mà Trần Quốc T, Đinh Hoàng D, Nguyễn Đ và Nguyễn Tiến T phải chịu trách nhiệm hình sự là: 11.200.000 đồng.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) bộ bài tú lơ khơ; 01 (một) cái đĩa bằng sứ màu trắng.
- Tổng số tiền thu giữa chiếu bạc và trên người các đối tượng: 24.450.000 đồng.
* Về xử lý vật chứng:
Tất cả các vật chứng và tiền đã tạm giữ, cần chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H để đảm bảo cho việc xét xử, thi hành án. Riêng số tiền 4.000.000 đồng thu giữ trên người của Nguyễn Tiến T, do hành vi đánh bạc của T đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H quyết định tách ra thành một vụ án khác vì T đã bỏ trốn và đang bị truy nã. Do vậy, cần chuyển số tiền 4.000.000 đồng này theo vụ án đã tách để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 261/CT-VKSTPH ngày 10 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố các bị cáo Trần Quốc T, Đinh Hoàng D và Nguyễn Đ về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố các bị cáo Trần Quốc T, Đinh Hoàng D và Nguyễn Đ phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt:
- Trần Quốc T và Nguyễn Đ từ 30 triệu đồng đến 32 triệu đồng; Đinh Hoàng D từ 28 triệu đến 30 triệu đồng.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền mà các bị cáo dùng vào việc đánh bạc.
+ Đối với số tiền thu giữ trên người của các bị cáo, do không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo. Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 11/3/2022, tại nhà của Trần Quốc T ở thôn T, xã M, thành phố H, tỉnh T, Trần Quốc T, Đinh Hoàng D, Nguyễn Đ và Nguyễn Tiến T đang đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài “Xì tẩy” thắng, thua bằng tiền, với tổng số tiền dùng đánh bạc 11.200.000 đồng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Nguyễn Tiến T sau đó đã bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra quyết định truy nã và tách hành vi phạm tội của T bằng một vụ án khác.
Với hành vi nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh T đã truy tố Trần Quốc T, Đinh Hoàng D, Nguyễn Đ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; vai trò của từng bị cáo; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhưng do hám lợi, muốn thu lợi bất chính nên dẫn đến phạm tội. Hành vi của các bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng nên cần được xử lý nghiêm.
Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, các bị cáo cùng thống nhất với nhau về việc tham gia đánh bạc trái phép. Trần Quốc T là người sử dụng nhà mình để làm địa điểm đánh bạc, chuẩn bị các công cụ và trực tiếp tham gia đánh bạc với các bị cáo khác nên phải chịu trách nhiệm chính. Nguyễn Đ có nhân thân xấu hơn nên phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn Đinh Hoàng D.
Các bị cáo T và D có nhân thân tốt, bị cáo Đ mặc dù được xác định không có tiền án, tiền sự nhưng đã từng nhiều lần bị xử phạt hành chính, tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã hơn 69 tuổi, mù chữ, nhận thức xã hội hạn chế nên cần xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét các bị cáo phạm vào tội ít nghiệm trọng; quy mô đánh bạc nhỏ với số tiền không lớn; động cơ, mục đích vì vụ lợi, kiếm tiền không chính đáng nên việc áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa.
[3] Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền: 11.200.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang. Đây là số tiền mà các bị cáo dùng để đánh bạc nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 3.000.000 đồng thu giữ trên người của Trần Quốc T, 5.000.000 đồng thu giữ trên người của Đinh Hoàng D, 1.250.000 đồng thu giữ trên người của Nguyễn Đ không có căn cứ là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc. Do đó, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho các bị cáo. Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Đối với số tiền 4.000.000 đồng thu giữ trên người của Nguyễn Tiến T, do hành vi của Thành đã được tách ra để giải quyết bằng một vụ án khác nên số tiền này sẽ được xử lý khi giải quyết vụ án liên quan đến hành vi của Thành.
- 01 bộ bài tú lơ khơ và 01cái đĩa bằng sứ màu trắng là các vật dụng phục vụ cho việc đánh bạc nên cần tịch thu tiêu hủy.
[4] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
[5] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Điều tra viên, Kiểm sát viên khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bịcáo Trần Quốc T, Đinh Hoàng D, Nguyễn Đ phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
- Xử phạt Trần Quốc T 32.000.000 (ba mươi hai triệu) đồng nộp vào ngân sách nhà nước.
- Xử phạt Nguyễn Đ 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng nộp vào ngân sách nhà nước.
- Xử phạt Đinh Hoàng D 28.000.000 (hai mươi tám triệu) đồng nộp vào ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu sung vào ngân sách nước: Số tiền 11.200.000 đồng.
- Trả lại cho bị cáo Trần Quốc T số tiền 3.000.000 đồng; trả lại cho bị cáo Đình Hoàng Dũng số tiền 5.000.000 đồng; trả lại cho bị cáo Nguyễn Đ số tiền 1.250.000 đồng nhưng cần tiếp tục tạm giữ toàn bộ số tiền này để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H tiếp tục tạm giữ số tiền 4.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Tiến T.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ và 01cái đĩa bằng sứ màu trắng.
Các vật chứng trên có đặc điểm được xác định theo Giấy nộp tiền ngày 10/10/2022 tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, chi nhánh H và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội
Buộc các bị cáo Trần Quốc T, Đinh Hoàng D, Nguyễn Đ, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xét xử công khai báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh T; - Sở tư pháp tỉnh T; - Phòng PV 06 CA tỉnh T; - VKSND TP H; - CA thành phố H; - Chi cục THADS thành phố H; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Tôn Minh Hiền |