- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh cháp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Ph về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁ NH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 273/2022/DS-ST Ngày: 15-7-2022 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Định.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Hữu Ngôn.
2. Ông Đặng Văn Ẩn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 15 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 173/2021/TLST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2022/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 159/2022/QĐST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A.
Địa chỉ: 213 Lê Thánh T, Phường Bến T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Quang Ch, sinh năm 1977 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ thường trú: 156/75 Chiến L, phường Bình Trị Đ, quận Bình T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền số: 19/UQ-GĐ ngày 16/4/2021).
Địa chỉ liên hệ: 463 Nguyễn Hữu T, thị trấn Tân T, huyện Bình C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ph, sinh năm: 1992 (vắng mặt không lý do).
Địa chỉ: B6/164 ấp A, xã Phong P, huyện Bình C, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phụng Hoàng L, sinh năm: 1976 (vắng mặt không lý do).
Địa chỉ: B6/164 ấp A, xã Phong P, huyện Bình C, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 16/4/2021, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Quang Ch trình bày:
Ngày 14/7/2014, Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A – chi nhánh Bình Chánh (gọi tắt là Quỹ trợ vốn CCM) đã ký hợp đồng liên kết số 050/2014/HĐLK-BC với tổ hợp tác số 02 xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh để làm cấp liên nhiệm cho Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A – Chi nhánh Bình Chánh. Bà Lê Thị Thanh Bình – tổ trưởng - là người đại diện tổ hợp tác số 02 xã Phong Phú, huyện Bình Chánh ký hợp đồng liên kết với Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A – chi nhánh Bình Chánh. Mục đích là hỗ trợ vốn cho các hộ dân thuộc xã Phong Phú, huyện Bình Chánh để chăn nuôi, sản xuất – kinh doanh – dịch vụ, mua bán nhỏ… theo sự giới thiệu và đề nghị của Cấp liên nhiệm.
Thông qua hợp đồng này, Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A – chi nhánh Bình Chánh đã tiến hành trợ vốn cho 08 thành viên vào ngày 31/7/2018 (có danh sách ký nhận tiền đính kèm), phương thức trợ vốn: góp hàng tháng, thời hạn trợ vốn: 12 tháng, phí trợ vốn CCM: 0,65%/tháng (phí này dùng trang trải chi phí hoạt động nội bộ của quỹ CCM –gọi tắt là phí CCM), phí hoa hồng cho Cấp liên nhiệm: 0,15%/tháng (phí này để Cấp liên nhiệm trang trải các chi phí phục vụ cho quá trình thu hồi vốn phí, tiết kiệm cho Qũy trợ vốn CCM- gọi tắt là phí CLN), tiết kiệm bắt buộc là: 1%/tháng (khoản tiết kiệm này được hoàn trả cho thành viên xin trợ vốn khi hoàn tất hợp đồng vay vốn và Qũy trợ vốn CCM không trả lãi tiết kiệm trên số dư tiết kiệm này).
Trong đợt trợ vốn ngày 31/7/2018, bà Nguyễn Thị Ngọc Ph đã làm đơn xin trợ vốn và được duyệt trợ vốn số tiền 20.000.000 đồng. Theo kế hoạch thì bà Phượng phải góp mỗi tháng là 2.100.000 đồng trong 11 tháng đầu, tháng cuối góp 1.220.000đ và góp đều cho đến ngày hết hạn hợp đồng là ngày 31/7/2019. Thế nhưng bà Phượng không góp đúng theo kế hoạch ban đầu.
Đến ngày 14/4/2021, bà Phượng vẫn chưa hoàn trả hết số nợ cho Qũy trợ vốn CCM. Tổng số tiền nợ sau khi trừ đi số tiền tiết kiệm của bà Phượng là 9.790.000 đồng, nợ vốn là 8.030.000 đồng, nợ lãi (phí) 1.760.000 đồng và khoản lãi phát sinh sẽ tính đến thời điểm bà Phượng thanh toán nợ.
Ngày 07/7/2022, bà Phượng đã trả cho Quỹ trợ vốn CCM số tiền gốc là 4.000.000 đồng.
Ông Nguyễn Phụng Hoàng L là chồng của bà Nguyễn Thị Ngọc Ph, ông Linh có ký tên trong đơn xin trợ vốn.
Nay Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A yêu cầu Tòa án giải quyết.
1/ Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc Ph có trách nhiệm phải hoàn trả toàn bộ số tiền nợ cho Quỹ trợ vốn CCM – Chi nhánh Bình Chánh tổng số tiền là 5.790.000 đồng (năm triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng) theo đợt trợ vốn ngày 31/7/2018, trong đó nợ vốn là 4.030.000 (bốn triệu, không trăm ba mươi nghìn) đồng, nợ lãi là 1.760.000 (một triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn) đồng.
2/ Nếu bà Nguyễn Thị Ngọc Ph không có khả năng trả nợ thì đề nghị ông Nguyễn Phụng Hoàng L phải trả nợ thay cho bà Nguyễn Thị Ngọc Ph khoản nợ nêu trên.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Ph và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phụng Hoàng L vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bà Phượng và ông Linh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Ph thanh toán tiền nợ vay theo đơn đề nghị trợ vốn, đây là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Ph có nơi cư trú tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có ông Nguyễn Quang Ch vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; còn bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về áp dụng pháp luật: Do giao dịch dân sự giữa nguyên đơn và bị đơn được xác lập vào năm 2018. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn làm cơ sở để giải quyết vụ án.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
[4.1] Tòa án triệu tập bà Nguyễn Thị Ngọc Ph, ông Nguyễn Phụng Hoàng L đến Tòa án để ghi nhận ý kiến, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản nhưng bà Phượng, ông Linh không đến Tòa để giải quyết vụ án và cũng không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, bà Phượng và ông Linh đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình và phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm chứng cứ giải quyết vụ án.
[4.2] Về hình thức hợp đồng: Căn cứ Đơn xin trợ vốn ngày 30/7/2018, Tờ trình xét duyệt trợ vốn ngày 31/7/2018 và Danh sách đề nghị trợ vốn của xã viên, người lao động trong THT, HTX ngày 30/7/2018 thì giao dịch giữa nguyên đơn và bị đơn có bản chất là hợp đồng vay tài sản có hình thức phù hợp với quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A là tổ chức có tư cách pháp nhân có đại diện hợp pháp xét duyệt trợ vốn và bà Nguyễn Thị Ngọc Ph là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự tự nguyện đề nghị giao kết hợp đồng do đó hợp đồng này có hiệu lực và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết hợp đồng theo quy định tại Điều 401 của Bộ luật dân sự.
[4.3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc Ph có trách nhiệm hoàn trả cho Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A tổng số tiền là 5.790.000 đồng (năm triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng) theo đợt trợ vốn ngày 31/7/2018, trong đó nợ vốn là 4.030.000 (bốn triệu, không trăm ba mươi nghìn) đồng, nợ lãi là 1.760.000 (một triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn) đồng.
Nếu bà Nguyễn Thị Ngọc Ph không có khả năng trả nợ thì đề nghị ông Nguyễn Phụng Hoàng L phải trả nợ thay cho bà Nguyễn Thị Ngọc Ph khoản nợ nêu trên.
[4.4] Căn cứ Đơn xin trợ vốn ngày 30/7/2018 thể hiện bà Phượng có nhu cầu vay vốn là 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng, thời hạn vay 12 tháng, phí trợ vốn: 0,65%/tháng, phí CLN: 0,15%/tháng, tiết kiệm: 01%/tháng, mục đích đề nghị trợ vốn: buôn bán (sửa chữa).
[4.5] Căn cứ Danh sách nhận trợ vốn kiêm biên bản bàn giao vốn ngày 31/7/2018, đợt trợ vốn ngày 31/7/2018 (số thứ tự 04) có chữ ký của bà Phượng. Hội đồng xét xử có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị Ngọc Ph có vay tiền của Quỹ trợ vốn xã viên Hợp tác xã Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền gốc là 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
[4.6] Tuy nhiên, sau khi nhận vốn từ Quỹ trợ vốn CCM thì bà Phượng có thanh toán cho Quỹ trợ vốn CCM nhưng thanh toán không đầy đủ tiền vốn và tiền lãi cho Quỹ trợ vốn CCM.
Hội đồng xét xử xét thấy, việc bà Phượng làm đơn đề nghị Quỹ trợ vốn CCM trợ vốn và đồng ý với các thỏa thuận, cam kết trong đơn đề nghị trợ vốn nhưng sau khi nhận vốn thì bà Phượng không thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Quỹ trợ vốn CCM là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A, buộc bà Nguyễn Thị Ngọc Ph có trách nhiệm thanh toán cho Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A số tiền nợ gốc với tổng số tiền là 5.790.000 đồng (năm triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng), trong đó nợ vốn là 4.030.000 (bốn triệu, không trăm ba mươi nghìn) đồng, nợ lãi là 1.760.000 (một triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn) đồng.
[4.7] Về yêu cầu buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phụng Hoàng L phải trả nợ thay cho bà Phượng trong trường hợp bà Phượng không có khả năng trả nợ cho Quỹ trợ vốn CCM. Căn cứ vào Đơn xin trợ vốn ngày 30/7/2018 của bà Phượng có nội dung như sau: “Người có nghĩa vụ trả thay (nếu tôi không trả được) là ông Nguyễn Phụng Hoàng L, số CMND:xxxxxxxxxxxx, Địa chỉ: B6/164 ấp 2, xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, Quan hệ với người xin trợ vốn: chồng”. Trong đơn đề nghị trợ vốn có chữ ký xác nhận của ông Nguyễn Phụng Hoàng L tại phần người có nghĩa vụ trả thay.
[4.8] Căn cứ vào các Điều 335, Điều 336, Điều 339 và Điều 342 của Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định ông Nguyễn Phụng Hoàng L sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bà Phượng) nếu khi đến hạn thanh toán mà bà Phượng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Quỹ trợ vốn CCM. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của Quỹ trợ vốn CCM.
[4.9] Người đại diện hợp pháp nguyên đơn xác định Quỹ trợ vốn CCM không yêu cầu bà Phượng thanh toán lãi chậm trả và lãi trên nợ gốc quá hạn theo quy định tại khoản 5 Điều 466 của Bộ luật dân sự. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Từ những lý lẽ đã viện dẫn; Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 6 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 335, Điều 336, Điều 339, Điều 342, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Ph về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
1.1. Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc Ph có trách nhiệm trả cho Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A số tiền nợ gốc và lãi tổng cộng là 5.790.000 đồng (năm triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng), trong đó nợ vốn là 4.030.000 (bốn triệu, không trăm ba mươi nghìn) đồng, nợ lãi là 1.760.000 (một triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn) đồng.
Các bên giao nhận tiền tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ghi nhận sự tự nguyện của Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A không yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc Ph trả lãi chậm trả và lãi trên nợ gốc quá hạn.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị Ngọc Ph còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.
1.2. Trong trường hợp bà Nguyễn Thị Ngọc Ph không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ nêu trên thì ông Nguyễn Phụng Hoàng L có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho bà Nguyễn Thị Ngọc Ph.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Ph phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
2.2. Hoàn trả lại cho Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0081490 ngày 10 tháng 5 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND H.BC; - THADS H.BC; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Kim Định Phạm Thị Kim Định |