vanban.org

Bản án 273/2017/DS-PT — Tranh chấp đất đai

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 25/09/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Hữu C.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm. Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của ông Trần Hữu C, chị Trần Thị Thùy D, Anh Nguyễn Hoàng N và chị Nguyễn Thị T2. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Trần Thị Thùy D- Trương Văn M"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Hữu C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 273/2017/DS-PT
Ngày: 25/9/2017
V/v Tranh chấp ranh gi i
quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vĩnh

Các Thẩm phán:

Ông Trần Phư c Hội;

Bà Nguyễn Thị Võ Trinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Thành Biên - i m sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2017 t i trụ s Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2017/TLPT-DS ngày 15 tháng 8 năm 2017 về Tranh chấp dân sự Ranh gi i quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2017 DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân Tp. C bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 236/2017/QĐ-PT ngày 18 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trần Thị Thùy D, sinh năm 1992.

Địa ch : phường 6, thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Hữu C (Lăng), sinh năm 1970. Địa ch : phường 6, thành phố C, t nh Đ ng Tháp theo văn bản uỷ quyền ngày 24/6/2014.

Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1982.

Địa ch : số 678/412, tổ 26, khóm 3, phường 6, Tp. Cao Lãnh, Đ ng Tháp.

Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1979. Địa ch : Phường 6, thành phố C, t nh Đ ng Tháp theo văn bản uỷ quyền ngày 13/3/2017.

- Bị đơn: Trương Văn M, sinh năm 1964.

Địa ch : phường 6, thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

Trần Hữu T1, sinh năm 1974.

Địa ch : phường 6, thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Trần Hữu C, sinh năm 1970.

Địa ch : phường 6, thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

2. Nguyễn Thị T2, sinh năm 1984.

Địa ch : phường 6, Tp. C, Đ ng Tháp.

Người đại diện ủy quyền của chị T2: Ông Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1979. Địa ch : phường 6, thành phố C, t nh Đ ng Tháp theo văn bản uỷ quyền ngày 13/3/2017.

3. Nguyễn Thị S, sinh năm 1962.

Địa ch : phường 6, thành phố Cao L, t nh Đ ng Tháp.

4. Bùi Thị Đ, sinh năm 1972.

5. Trần Thị Huyền T3, sinh năm 1998.

6. Trần Thị im A, sinh năm 2003.

7. Trần Thị im N, sinh năm 2012.

Cùng địa ch : phường 6, TP. C, t nh Đ ng Tháp.

Người đại diện theo pháp luật của Trần Thị im A, Trần Thị im N là ông Trần Hữu T1 và bà Bùi Thị Đ.

* Người kháng cáo: Ông Trần Hữu C người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Các nguyên đơn:

+ Chị Trần Thị Thuỳ D – đ i diện ủy quyền ông Trần Hữu C trình bày: Chị Trần Thị Thùy D có diện tích đất lúa 1.007,lm2 (đo đ c thực tế 1.152,4m2) thuộc thửa 7767, tờ bản đ số 8, tọa l c t i tổ 22, khóm 3, phường 6, thành phố C, Đ ng Tháp; Chị D được cấp quyền sử dụng ngày 17/01/2012. Đất chị D có c nh giáp ranh v i đất của ông Trương Văn M thuộc thửa 269 và đất anh Trần Hữu T1 thửa 275. Trong quá trình sử dụng đất ông M và anh T1 đã tự ý di dời trụ đá ranh giữa hai bên lấn qua ruộng của chị D. Phần đất tranh chấp giữa chị D và ông M th hiện các mốc 12, 25, 24, 11 có diện tích 11,5m2.

Nay chị D yêu cầu xác định l i ranh đất giữa chị D thửa 7767 và đất ông M thửa 269 là một đường thẳng nối từ mốc 12 đến mốc 25.

Phần đất tranh chấp giữa chị D và anh T1 th hiện các mốc 25, 8, 40, 24 có diện tích là 12,7m2. Nay chị D yêu cầu xác định ranh đất giữa chị D thửa 7767 và đất anh T1 thửa 275 là một đường thẳng nối từ mốc 25 đến mốc 8.

Đối v i tiền chi phí xem xét thẩm định t i chỗ và định giá yêu cầu chia theo diện tích đo thực tế.

Căn cứ chứng minh cho yêu cầu kh i kiện của chị D là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chị D được cấp.

+ Anh Nguyễn Hoàng N – đ i diện ủy quyền anh Huỳnh Ngọc T trình bày: Anh Nguyễn Hoàng N có diện tích đất lúa 994,8m2 (đo đ c thực tế là 964,4m2) thuộc thửa 7386 tờ bản đ số 8, tọa l c t i tổ 27, khóm 3, phường 6, Tp C. Đất của anh N có c nh giáp ranh v i đất của ông Trương Văn M thửa 269. Trong quá trình sử dụng ông M đã tự ý di dời trụ đá ranh giữa hai bên lấn qua đất của anh N chiều ngang c nh từ mốc 12 đo ngang qua mốc 11 là 0,72m; chiều ngang c nh từ mốc 23 đo ngang qua mốc 22 là 0,59m, chiều dài từ mốc 22 đến mốc 11 là 33,59m, chiều dài từ mốc 23 đến mốc 12 là 33,6m, diện tích lấn chiếm là 22,01m2.

Nay anh N yêu cầu ông M trả l i diện tích lấn ranh 22,lm2 th hiện các mốc 23, 12, 11, 22. Yêu cầu xác định ranh đất giữa anh N thửa 7386 và ông M thửa 269 là đường thẳng th hiện các mốc 23,12.

Đối v i tiền chi phí xem xét thẩm định t i chỗ và định giá yêu cầu chia theo diện tích đo thực tế.

Căn cứ chứng minh cho yêu cầu kh i kiện là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh N được cấp.

- Các bị đơn:

+ Ông Trương Văn M trình bày: Ông M có phần diện tích đất ruộng thửa 269, tờ bản đ số 7 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất của ông M có c nh giáp ranh v i chị Trần Thị Thuỳ D thửa 7767, Nguyễn Hoàng N thửa 7386 và Nguyễn Thị T2 thửa 7387.

Phần đất của chị D là có ngu n gốc của ông Trần Văn T cho ông Trần Hữu C, và ông C cho l i chị D.

Phần đất của anh N, chị T2 có ngu n gốc của ông Nguyễn Văn H (cha của anh N, chị T2) cho. Nơi giáp ranh giữa đất của ông M, chị D và anh N, chị T2 từ trư c (lúc ông T và ông H còn canh tác) đã có tr ng trụ đá làm ranh, các bên đã thống nhất v i vị trí trụ đá đó hơn 10 năm. Do trụ đá tr ng lâu bị ngã, nên khoảng tháng 11/2013, ông M có mời gia đình ông T và gia đình ông H đến đ tr ng l i trụ đá, lý do mời ông T và ông H là vì những người này là chủ đất cũ, còn D, N, T2 ch m i sử dụng đất sau này khoảng từ năm 2011, 2012 đến nay.

Nay, ông Trương Văn M xác định:

Ranh đất giữa ông M thửa 269 và đất của chị T2 thửa 7387 là đường thẳng nối từ mốc 17 đến mốc A. hông đ ng ý việc xác định ranh đất của chị T2 là từ mốc 18 đến mốc 23.

Ranh đất giữa ông M thửa 269 và đất anh N thửa 7386 là đường thẳng nối từ mốc A đến mốc AI (Mốc A I là giáp giữa 3 người: ông M, anh N và chị D).

Ranh đất giữa ông M thửa 269 và đất chị D thửa 7767 là một đường thẳng nối từ mốc AI đến mốc 25 (Mốc 25 là giáp giữa 3 người: ông M, chị D và anh T1).

Đối v i tiền chi phí xem xét thẩm định t i chỗ và định giá thống nhất chia theo diện tích đo thực tế.

+ Anh Trần Hữu T1 – đ ng thời là đ i diện theo pháp luật của Trần Thị im A, Trần Thị im N trình bày:

Phần đất anh Trần Hữu T1 có ngu n gốc là do anh chuy n nhượng của ông Trương Văn M. Trụ ranh giáp giữa đất của anh T1, ông M và chị D có từ trư c (từ thời ông nội chị D là ông T và cha chị D là ông C còn canh tác), lúc đó ba bên đã thống nhất vị trí ranh đất và xuống trụ đá.

Do trụ đá tr ng lâu bị ngã, nên khoảng tháng 11/2013, ông M có mời gia đình ông T, ông C và ông T1 đến đ tr ng l i trụ đá cho ngay. Lúc tr ng l i trụ đá có ông T (ông nội của Thuỳ D), ông C, ông Trần Trung C (là chú của Thuỳ D) và nhiều cô bác nhà gần đó cũng đến chứng kiến.

Phần đất của anh T1 hiện nay là đất vườn, còn đất của ông C là đất lúa, trụ đá được tr ng trên bờ ranh ruộng. Trong quá trình sử dụng ông C tự ý nhổ trụ đá cũ tr ng l i lấn sang phần đất của anh T1 khoảng 0,4m.

Anh T1 xác định ranh đất giữa đất chị D thửa 7767 và đất anh T1 thửa 275 là một đường thẳng nối từ mốc 25 (mốc 25 giáp giữa đất anh T1, ông M và chị D) đến mốc 8 (mốc 8 là trụ đá giáp giữa đất của ông T1, chị D và ông C).

Ranh đất giữa anh T1 thửa 275 và đất ông C thửa 7768 là các đo n thẳng nối từ mốc 8, 27, 28 và 36.

Đối v i phần đất dư i mé sông chưa được cấp quyền sử dụng đất, nên thống nhất theo sự xác định ranh của ông C là mốc 33, mốc 1 và 38.

- Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Trần Hữu C có yêu cầu độc lập trình bày: Ông C có diện phần đất lúa diện tích 2.197,9m2 (đo thực tế 1.849,6m2) thuộc thửa 7768, tờ bản đ số 8, tọa l c tổ 22, khóm 3, phường 6, Tp. C. Đất ông C được cấp quyền sử dụng ngày 17/01/2012. Phần đất của ông C giáp ranh v i anh Trần Hữu T1 thuộc thửa 275. Do đất của ông C và đất chị D (con gái ông C) liền ranh, nên việc ông M và anh T1 cấm l i trụ đá ranh chỗ đất chị D, sau đó anh T1 lấy trụ đá này kéo thẳng ra bờ sông cấm l i trụ đá lấn qua đất của ông C. Phần đất tranh chấp ranh giữa ông C và anh T1 th hiện chiều ngang từ mốc 8 đo qua mốc 40 là 0,56m; chiều ngang từ mốc 37 đo qua mốc 36 là 0,44m; chiều dài từ mốc 8 đến mốc 37 là 64,8m, chiều dài từ mốc 40 đến mốc 36 là 60,89m, diện tích 32,4m2.

Nay ông Trần Hữu C yêu cầu xác định l i ranh đất giữa ông C thửa 7768 và anh T1 thửa 275 th hiện các mốc 8, 37 và xác định ranh phần đất bờ sông th hiện các mốc 38, 1, 33.

Đối v i tiền chi phí xem xét thẩm định t i chỗ và định giá yêu cầu chia theo diện tích đo thực tế.

Căn cứ chứng minh cho yêu cầu kh i kiện của ông C là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

+ Chị Nguyễn Thị T2 - đ i diện ủy quyền Huỳnh Ngọc T trình bày: Chị Nguyễn Thị T2 có phần đất lúa diện tích là 992,5m2 (đo thực tế 1.127,6m2) thuộc thửa số 7387, tờ bản đ số 8, tọa l c tổ 27, khóm 3, phường 6, Tp. C, Đ ng Tháp; được cấp quyền sử dụng ngày 16/8/2011. Đất của chị T2 giáp ranh v i đất ông Trương Văn M thuộc thửa 269, trong quá trình sử dụng ông M tự ý nhổ trụ đá cấm qua phần đất của chị. Phần đất tranh chấp ranh giữa chị T2 và ông M th hiện chiều ngang từ mốc 17 đo qua mốc 18 là 0,38m, chiều ngang từ mốc 22 đo qua mốc 23 là 0,59m; chiều dài từ mốc 17 đến mốc 22 là 39,6m, chiều dài từ mốc 18 đến mốc 23 là 39,6m, diện tích là 19,lm2.

Nay chị Nguyễn Thị T2 yêu cầu xác định ranh đất giữa đất chị T2 và đất ông M là một đường thẳng nối từ mốc 18 đến mốc 23.

Căn cứ chứng minh cho yêu cầu kh i kiện của chị T2 là quyền sử dụng đất của chị T2 được cấp và đối chiếu theo bản đ đo đ c ngày 20/8/2015 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố C thì chiều ngang phần đất chị T2 còn thiếu một đầu là 0,59m và một đầu 0,38m so v i bờ ranh sử dụng thực tế.

Đối v i tiền chi phí xem xét thẩm định t i chỗ và định giá yêu cầu chia theo diện tích đo thực tế.

+ Chị Bùi Thị Đ - đ ng thời là đ i diện theo pháp luật của Trần Thị im A, Trần Thị im N trình bày: Chị là vợ anh T1, Kim A và Kim N và Huyền T là con của chị và anh T1, là người chung hộ anh T1. Chị Đ có cùng ý kiến như anh T1.

+ Bà Nguyễn Thị S là vợ ông M, là người chung hộ ông M, bà có cùng ý kiến v i ông M.

- Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2017/DS-ST ngày 30/6/2017 của Tòa án nhân dân Tp. C đã quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của ông Trần Hữu C, chị Trần Thị Thùy D, Anh Nguyễn Hoàng N và chị Nguyễn Thị T2.

+ Ranh đất giữa đất ông Trần Hữu C thửa 7768 và đất anh Trần Hữu T1 thửa 275 vị trí là mốc 8, 27, 28, 36, 38, 01 và 33.

+ Ranh đất giữa đất chị Trần Thị D thửa 7767 và đất ông Trương Văn M thửa 269 là mốc A1 và mốc 25;

+ Ranh đất giữa đất anh Trần Hữu T1 thửa 275 và đất chị Trần Thị Thùy D thửa 7767 là mốc 25 và mốc 8.

+ Ranh đất giữa đất anh Nguyễn Hoàng N thửa 7386 và đất ông Trương Văn M 269 là mốc A1 và mốc A.

+ Ranh đất giữa đất chị Nguyễn Thị T2 thửa 7387 và đất ông Trương Văn M thửa 269 là mốc 17 và mốc A.

(Kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 20/8/2015 và ngày 21/6/2017 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố C).

Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh gi i của thửa đất phù hợp v i quy định của pháp luật và không được làm ảnh hư ng đến việc sử dụng đất của người khác.

Các đương sự được đến cơ quan có thẩm quyền điều ch nh l i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đo đ c thực tế.

- Án phí dân sự sơ thẩm:

+ Chị Trần Thị Thùy D chịu 200.000đ ng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền t m ứng án phí đã nộp 100.000đ ng theo biên lai thu số 025318 ngày 07/4/2014 và 100.000đ ng theo biên lai thu số 025730 ngày 16/9/2014.

+ Ông Trần Văn C chịu 200.000đ ng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền t m ứng án phí đã nộp 100.000đ ng theo biên lai thu số 030989 ngày 25/3/2015, ông C còn phải nộp tiếp số tiền 100.000đ ng.

+ Anh Nguyễn Hoàng N chịu 200.000đ ng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền t m ứng án phí đã nộp 100.000đ ng theo biên lai thu số 025317 ngày 07/7/2014, ông C còn phải nộp tiếp số tiền 100.000đ ng.

+ Chị Nguyễn Thị T2 chịu 200.000đ ng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền t m ứng án phí đã nộp 100.000đ ng theo biên lai thu số 030990 ngày 25/3/2015 và 100.000đ ng theo biên lai thu số 08339 ngày 22/12/2016.

+ Anh Trần Hữu T1 và Ông D Văn M mỗi người phải chịu 200.000đ ng án phí dân sự sơ thẩm.

- Chi phí tố tụng khác:

Ông M có nghĩa vụ trả l i cho ông C số tiền 2.704.000đ ng.

Anh T1 có nghĩa vụ trả l i cho chị T2 số tiền 1.857.000đ ng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên thời h n kháng cáo của đương sự và quyền yêu cầu thi hành án.

- Ngày 13/7/2017, bị đơn ông Trần Hữu C kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu xem xét l i vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

- T i phiên tòa phúc thẩm:

+ Các nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kh i kiện.

+ Các bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến của mình.

+ Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập; riêng ông Trần Văn C thay đổi yêu cầu kháng cáo, ông yêu cầu xác định ranh thửa 7768 và thửa 275 giữa ông và ông T1 từ mốc 8 đến mốc 37 là ranh đất giữa ông và ông T1; (từ mốc 38, 1, 33 không tranh chấp).

- Đ i diện Viện ki m sát nhân dân T nh ý kiến về vụ án:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý xem xét giải quyết vụ án cũng như t i phiên tòa phúc thẩm, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đ ng xét xử đều đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng điều đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án đã được ki m tra t i phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng t i phiên tòa, phát bi u của Viện ki m sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Ngu n gốc đất tranh chấp:

Ngu n gốc đất của ông C, chị D là của ông Th nh (ông T là cha của ông C và là ông nội của chị D) cho ông C, sau đó ông C cho l i chị D sử dụng năm 2012.

Ngu n gốc đất của anh N và chị T2 là của ông H (ông H là cha của anh N, chị T2) cho sử dụng vào năm 2011.

Ngu n gốc đất của ông M là do cha mẹ đ l i sử dụng năm 2005.

Ngu n gốc đất của anh T1 là do anh chuy n nhượng của ông Trương Văn M năm 2006.

Quá trình kê khai đăng ký quyền sử dụng đất:

Theo công văn số 1241/UND-TN ngày 01/8/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố C th hiện:

- Phần đất tranh chấp giữa chị D và ông M có diện tích 19,lm2 th hiện mốc 18,23, A, 22, 17 trong đó có:

Diện tích 3,lm2 (ph m vi các mốc 17, 22, A đến 17) thuộc thửa 7387, tờ bản đ số 8, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Nguyễn Thị T2 ngày 16/8/2011.

Diện tích 16m2 (ph m vi các mốc 17, A, 23, 18 đến mốc 17) thuộc thửa 269, tờ bản đ số 8, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Trương Văn M ngày 30/7/2003.

- Phần đất tranh chấp giữa anh N và ông M có diện tích 22,lm2 th hiện mốc 22, A, 23, 12, Al, 11 đến 22 trong đó có:

Diện tích 1 l,5m2 (ph m vi các mốc 22, A, Al, 11, đến 22) thuộc thửa 7386, tờ bản đ số 8, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Hoàng N vào ngày 16/8/2011.

Diện tích 10,6m2 (ph m vi các mốc A, Al, 12, 23 đến mốc A) thuộc thửa 269, tờ bản đ số 8, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trương Văn M vào ngày 30/7/2003.

- Phần đất tranh chấp giữa chị D và ông M có diện tích 11,5 m2 th hiện mốc 12, 25, 24, 11, A1 đến 12 trong đó có:

Diện tích 3,l m2 (ph m vi các mốc 12, 25, A1 đến mốc 12) thuộc thửa 269, tờ bản đ số 8, đã được cấp quyền sử dụng đất cho Trương Văn M ngày 30/7/2003.

Diện tích 8,4 m2 (ph m vi các mốc 11, Al, 25, 24 đến 11) thuộc thửa 7767, tờ bản đ số 8, được cấp quyền sử dụng đất cho Trần Thị Thùy D ngày 17/01/2012.

- Phần đất tranh chấp giữa chị D và anh T1 có diện tích 12,7 m2 th hiện mốc 24, 25, 8, 40 đến 24 thuộc thửa 7767, tờ bản đ sổ 8, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng dất cho Trần Thị Thùy D ngày 17/01 /2012.

- Phần đất tranh chấp giữa ông C và anh T1 có diện tích 32,4m2 mốc 8, 40, 27, 28, 36, 37 đến 8 trong đó có:

Diện tích 8,7m2 (ph m vi các mốc 8, 40, 27 đến mốc 8) thuộc thửa 7768, tờ bản đ số 8, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Hữu C vào ngày 17/01/2012.

Diện tích 23,7m2 (ph m vi các mốc 8, 37, 36, 28, 27 đến 8) thuộc thửa 275, tờ bản đ số 8 được cấp quyền sử dụng đất cho Trần Hữu T1 ngày 19/10/2006.

Đối v i phần đất tiếp giáp bờ sông của anh T1 và ông C chưa được cấp quyền sử dụng đất diện tích 36,3m2 (ph m vi các mốc 3, A2, A3, 2 đến mốc 3).

Phần đất của chị D, anh N, chị T2, ông M, ông C hiện tr ng sử dụng là đất lúa; đất của anh T1 hiện tr ng sử dụng đất tr ng cây lâu năm.

Về diện tích đất sử dụng và diện tích đất thực tế đang tranh chấp:

- Đất của chị D được cấp quyền sử dụng diện tích 1.007,1m2 (thực đo 1.1152,4m2); Đất của anh N được cấp quyền sử dụng diện tích 994,8m2 (thực đo 964,4m2); Đất của ông M, bà Sáu được cấp quyền sử dụng diện tích 3.806,2m2 (thực đo 3.689m2); Đất của anh T1 được cấp quyền sử dụng diện tích 2.846,7m2 (thực đo 2.533,5m2); Đất của chị T2 được cấp quyền sử dụng diện tích 992,5m2 (thực đo 1.127,6m2); Đất của ông C được cấp quyền sử dụng diện tích 2.197,9m2 (thực đo 1.849,6m2).

Ranh đất hiện tr ng giữa chị D, ông C, anh N, chị T2 và anh T1, ông M là bờ ranh rộng khoảng 0,4m đến 0,5m, nhưng đường ranh không thẳng th hiện theo sơ đ đo đ c ngày 21/6/2017.

Theo hiện tr ng trên đường ranh có các trụ đá th hiện trong sơ đ mốc từ đường nhựa vào là mốc 28, 27, 8, 24, 11, 22 và 17. Còn l i các mốc khác trên đường tranh chấp là trụ cây do các bên tự cấm khi Tòa án tiến hành đo đ c.

Trong đó:

Từ mốc 28, 27 đến mốc 8 là ranh đất giữa ông C và anh T1;

Từ mốc 8 đến mốc 25 là ranh đất giữa anh T1 và chị D;

Từ mốc 25 đến mốc 11 là ranh đất giữa ông M và chị D;

Từ mốc 11 đến mốc 22 là ranh đất giữa ông M và anh N;

Từ mốc 22 đến mốc 17 là ranh đất giữa ông M và chị T2.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như t i phiên tòa ông M và anh T1 thống nhất xác định ranh đất giữa ông M v i chị T2, anh N, chị D và ông C theo số liệu vị trí mốc t i văn bản số 1241/UBND-TN ngày 01/8/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố C.

Đối v i phần đất dư i mé sông chưa được cấp quyền sử dụng đất anh T1 đ ng ý việc xác định ranh của ông C.

Xét yêu cầu kháng cáo của ông Trần Hữu C yêu cầu xác định ranh đất thửa 7768 của ông và thửa 275 của ông Trần Hữu T1 là mốc 8 đến mốc 37 theo sơ đ đo đ c ngày 21/6/2017 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố C (phần đất từ vị trí mốc 38 - 1 - 33 đ ng ý xác định ranh như án sơ thẩm xử không yêu cầu tranh chấp). Xét thấy, đất của ông C có ngu n gốc của ông T cho nhưng không th hiện có việc đo đ c đ xác định ranh đất v i người có đất giáp ranh. T i phiên tòa ông C cho rằng ông được ông T cho đất năm 2011 và làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông đứng tên, nhưng đến năm 2013 ông m i được nhận đất sử dụng, khi nhận đất được ông T cho cũng không xác định ranh gi i v i ông M, ông cũng không xác định được ông M, ông T1 lấn ranh từ thời gian nào, diện tích đất lấn ranh là bao nhiêu, b i hiện t i đất của ông C và anh T1 đều thiếu hơn so v i giấy chứng nhận quyền sử dụng được cấp.

T i phiên tòa ông C cho rằng, ông M, T1 cấm l i trụ đá ranh t i vị trí đất của chị D liền ranh v i đất của ông mốc 27, 27 (theo sơ đồ đo đạc ngày 21/6/2017 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố C), từ trụ đá này kéo thẳng ra bờ sông cấm l i trụ đá lấn qua đất của ông là không chính xác. Xét thấy theo lời khai của người làm chứng ông Ph m Hòa B (BL195), Trần Tấn M (BL 197), Trần Hữu C (BL 199)....trình bày có chứng kiến và kéo dây đ nhắm ranh xuống trụ đá giữa đất ông T (cha ông C), ông C và ông H (cha anh N, T2) điều này phù hợp v i lời trình bày của ông T1, M (do ông T và ông H là chủ đất củ) sau này ông T m i cho đất l i ông C. Tuy nhiên không xác định các trụ đá t i vị trí nào, ông T1 không thừa nhận có dời tụ đá nhưng ông C không có chứng cứ chứng minh nên yêu cầu kháng cáo của ông C là không có cơ s chấp nhận.

T i phiên tòa, ông Trần Hữu C không đưa ra chứng cứ chứng minh là bờ ranh thẳng, theo biên bản thẩm định hiện tr ng bờ ranh cũng không thẳng, do đó không có cơ s đ xác định là bờ ranh là ranh chung đ chia theo hiện tr ng sử dụng, vì các bên không sử dụng liên tục, ổn định và lâu dài theo (ông C ch m i sử dụng đất từ năm 2013).

Do ông C không có chứng cứ chứng minh quá trình sử dụng đất ông M đã lấn đất của ông, nên Tòa sơ thẩm căn cứ vào việc cấp quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân thành phố C đối v i ông C, chị D, anh N, chị T2, anh T1 và ông M đ xác định ranh đất giữa các đương sự v i nhau. Căn cứ theo Văn bản của ủy ban nhân dân thành phố C thì yêu cầu xác định ranh của ông C, chị D, anh N và chị T2 có một phần căn cứ, nên Hội đ ng xét xử cấp sơ thẩm ch chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của ông C, chị D, anh N và chị T2 là có cơ s .

T i phiên tòa Vị đ i diện Viện ki m sát phát biều ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán chủ tọa, Hội đ ng xét xử và những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông C, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Xét đề nghị của Viện ki m sát là phù hợp nên Hội đ ng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

V i những phân tích trên, yêu cầu kháng cáo của ông C là không có căn cứ nên không được chấp nhận;

- Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông C phải nộp 300.000đ ng theo quy định t i khoản 2 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Hữu C.

2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của ông Trần Hữu C, chị Trần Thị Thùy D, Anh Nguyễn Hoàng N và chị Nguyễn Thị T2.

- Ranh đất giữa hộ ông Trần Hữu C thửa 7768 và đất hộ anh Trần Hữu T1 thửa 275 là mốc 8, 27, 28, 36, 38, 01 và 33 (mốc 38,1,33 ông C, anh T1 thỏa thuận không tranh chấp). Nối các mốc 8 đến mốc 27 dài 31,6m; từ mốc 27 đến mốc 28 dài 29,2m; từ mốc 28 đến mốc 36 dài 3,9m; từ mốc 38 đến mốc 1 đến mốc 33 là ranh đất giữa ông hộ ông C và hộ anh T1; (Mốc gửi từ mốc 8 đến cây xoài dài 14,3m; mốc gửi từ mốc 27 đến biển báo dài 33,48m; mốc gửi từ mốc 27 đến biển báo dài 33,48m; mốc gửi từ mốc 28 đến bó nền cạnh dài 8,97m; cạnh dài 9,1m; mốc gửi từ mốc 36 đến biển báo dài 7,23m; mốc gửi từ mốc 36 đến biển báo dài 9,8m; mốc gửi từ mốc 1 đến biển báo dài 9,5m; mốc gửi từ mốc 33 đến biển báo dài 11,46m).

- Ranh đất giữa Trần Thị D thửa 7767 và đất ông Trương Văn M, bà Nguyễn Thị Sáu thửa 269 là mốc A1 đến mốc 25; nối mốc A1 đến mốc 25 dài 17,4m là ranh đất giữa chị D và ông M, bà Sáu; (Mốc gửi từ mốc A1 đến mốc 12 dài 0,25m; mốc gửi từ mốc 25 đến cây xoài dài 8,67m).

- Ranh đất giữa đất anh Trần Hữu T1 thửa 275 và đất chị Trần Thị Thùy D thửa 7767 là mốc 25 đến mốc 8; nối mốc 25 đến mốc 8 dài 22m (Mốc gửi từ mốc 25 đến cây xoài dài 8,67m; gửi từ mốc 8 đến cây xoài dài 19,2m).

- Ranh đất giữa đất anh Nguyễn Hoàng N thửa 7386 và đất ông Trương Văn M 269 là mốc A1 đến mốc A. Nối mốc A1 đến mốc A dài 33,6m (Mốc gửi từ mốc A1 đến mốc 12 dài 0,25m; từ mốc A đến cây xoài dài 41,57m).

- Ranh đất giữa đất chị Nguyễn Thị T2 thửa 7387 và đất ông Trương Văn M thửa 269 là mốc 17 đến mốc A. Nối mốc 17 đến mốc A dài 39,6m(Mốc gửi từ mốc 17 đến cây xoài dài 7,03m; gửi từ mốc A đến cây xoài dài 41,57m).

(Kèm biên bản xem xét thẩm định và sơ đồ đo đạc, sơ đồ mốc gửi ngày 20/8/2015, 21/6/2017 của Tòa án và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố C).

Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh gi i của thửa đất phù hợp v i quy định của pháp luật và không được làm ảnh hư ng đến việc sử dụng đất của người khác.

Các đương sự được đến cơ quan có thẩm quyền điều ch nh l i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo diện tích đo đ c thực tế.

- Án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Trần Thị Thùy D phải chịu 200.000đ ng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền t m ứng án phí đã nộp 100.000đ ng theo biên lai thu số 025318 ngày 07/4/2014 và 100.000 đ ng theo biên lai thu số 025730 ngày 16/9/2014 của Chi cục thi hành án thành phố C.

Ông Trần Văn C phải chịu 200.000đ ng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền t m ứng án phí đã nộp 100.000đ ng theo biên lai thu số 030989 ngày 25/3/2015 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố C, ông C còn phải nộp tiếp số tiền 100.000đ ng.

Anh Nguyễn Hoàng N phải chịu 200.000đ ng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền t m ứng án phí đã nộp 100.000đ ng theo biên lai thu số 025317 ngày 07/7/2014 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố C, ông C còn phải nộp tiếp số tiền 100.000đ ng.

Chị Nguyễn Thị T2 phải chịu 200.000đ ng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền t m ứng án phí đã nộp 100.000đ ng theo biên lai thu số 030990 ngày 25/3/2015 và 100.000 đ ng theo biên lai thu số 08339 ngày 22/12/2016 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố C.

Anh Trần Hữu T1 và Ông D Văn M mỗi người phải chịu 200.000đ ng án phí dân sự sơ thẩm t i Chi cục thi hành án dân sự thành phố C.

- Chi phí tố tụng khác:

Ông Trương Văn M có nghĩa vụ trả l i cho ông Trần Hữu C số tiền 2.704.000đ ng.

Anh Trần Hữu T1 có nghĩa vụ trả l i cho chị Nguyễn Thị T2 số tiền 1.857.000đ ng.

4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Hữu C phải chịu 300.000đ ng tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào tiền t m ứng án phí đã nộp theo biên lai số 10223 ngày 05/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C, t nh Đ ng Tháp (ông C đã nộp xong).

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kề từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

T1 hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ