vanban.org

Bản án 272/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 22/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Trương Thành C, Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Thành C 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/7/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Trương Thành C và đồng phạm phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trương Thành C, Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 272/2023/HS-ST
Ngày 22-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Lài.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tống Văn Tâm;

Ông Huỳnh Sơn Tây.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 273/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 274/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Trương Thành C, sinh năm 1999 tại Đồng Tháp; nơi cư trú: ấp 2, xã An H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn Q và bà Châu Thị T; bị cáo có vợ Lê Thị Mỹ L (không đăng ký kết hôn) và 03 con lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2021;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/7/2023 cho đến nay; có mặt.

2. Nguyễn Chí T, sinh năm 2003 tại Kiên Giang; nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Huỳnh Ngọc B; bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/7/2023 cho đến nay; có mặt.

Người làm chứng: Anh Trần Văn T và anh Nguyễn Minh T; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Thành C, Nguyễn Chí T có mối quan hệ là bạn với nhau, cả 02 cùng nghiện ma túy. Loại ma túy C và T sử dụng là ma tuý đá (Methamphetamine). Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/7/2023, T đi bộ từ phòng trọ ở phường Khánh Bình, thành phố Tân Uyên đến khu vực công viên thuộc khu phố Bình Khánh, phường Khánh Bình để chơi. T đến công viên thì gặp C và C rủ góp tiền mua ma tuý để sử dụng nhưng T không còn tiền nên C nói với T mang căn cước công dân đi cầm rồi lấy tiền mua ma tuý để sử dụng. Sau đó, C đi đến cơ sở cầm đồ Bình Dương Phát ở khu phố Long Bình cầm căn cước công dân được 500.000 đồng. C cầm tiền đi về khu vực công viên đưa cho T 200.000 đồng để T mua ma tuý. T đi bộ đến khu vực gần nhà trọ Út Phước, ở khu phố Bình Khánh, phường Khánh Bình tìm gặp người nam thanh niên tên V (không rõ nhân thân) mua ma túy (T biết V bán ma túy do bạn không rõ nhân thân giới thiệu). Khi đến nơi, T gặp và hỏi V để mua 200.000 đồng ma túy. Sau khi giao tiền và nhận 01 (Một) gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng là ma tuý, T cầm trên tay phải rồi đi bộ về công viên đưa cho C, C cất giấu ma tuý vào túi quần bên trái. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, tổ tuần tra công an phường Khánh Bình, thành phố Tân Uyên đang đi tuần tra thấy C và T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bên trong túi quần bên trái của C có 01 (Một) gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng. C và T khai nhận: chất tinh thể màu trắng là ma túy đá, lực lượng tuần tra tiến hành niêm phong đối với 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng, đưa C và T đến trụ sở Công an phường Khánh Bình, thành phố Tân Uyên để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 (Một) gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng.

Sau đó, Công an phường Khánh Bình bàn giao C và T cùng hồ sơ vụ việc, vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định số 392/MT - PC09 ngày 12/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: 01 (Một) gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể trắng thu giữ của Trương Thành C và Nguyễn Chí T là chất ma túy, loại Methamphetamine, có trọng lượng 0,1283 gam.

Cáo trạng số 293/CT-VKS.TU ngày 17/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Trương Thành C và Nguyễn Chí T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Thành C từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 bì thư đã được niêm phong ký hiệu 392/PC09 bên trong chứa ma túy loại Methemphetamine khối lượng còn lại sau giám định; trả lại căn cước công dân cho bị cáo Trương Thành C mang tên bị cáo.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và không tranh luận.

Trong phần trình bày lời nói sau cùng, các biết hành vi của mình là trái pháp luật, trong thời gian tạm giam các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng không mâu thuẫn với lời khai của các bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát và các bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người làm chứng. Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những người nêu trên theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Trương Thành C và Nguyễn Chí T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung bị can, biên bản niêm phong, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 04/7/2023, tại khu phố Bình Khánh, phường Khánh Bình, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, Trương Thành C và Nguyễn Chí T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1283 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì để thỏa mãn cơn nghiện và thái độ coi thường pháp luật nên đã cố ý thực hiện. Do đó, cần xử các bị cáo thật nghiêm mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo C phạm tội với vai trò đề xuất, rủ rê và là người bỏ tiền mua ma túy; bị cáo T là người đi mua ma túy cất giấu để sử dụng. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cũng cần cân nhắc đến nhân thân, vai trò và tính nguy hiểm của từng bị cáo cho phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với số ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án và là chất cấm nên cần tịch thu, tiêu hủy; đối với căn cước công dân của bị cáo Trương Thành C là giấy tờ tùy thân không liên quan đến vụ án nên trả lại bị cáo C.

Đối với người nam thanh niên tên Vĩnh có hành vi bán ma túy cho T, kết quả điều tra đến nay chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên chưa có căn cứ để xử lý, là phù hợp.

Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Trương Thành C, Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trương Thành C 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/7/2023.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/7/2023.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) bì thư đã được niêm phong ký hiệu 392/MT-PC09 bên trong chứa ma túy loại Methemphetamine khối lượng còn lại sau giám định; trả lại căn cước công dân cho bị cáo Trương Thành C mang tên bị cáo.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Trương Thành C, Nguyễn Chí T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai.

Cỡ chữ