vanban.org

Bản án 272/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 09/11/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T và bà Lâm Thùy L. Buộc bà Trần Kim V và ông Diệp Văn H trả cho ông Nguyễn Văn T và bà Lâm Thùy L 4,5 chỉ vàng 24k (bốn chỉ năm phân vàng hai mươi bốn kara).

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn T và bà Lâm Thùy L không phải chịu, đã nộp tạm ứng án phí 624.000đ (sáu trăm hai mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000411 ngày 03/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được nhận lại. Bà Trần Kim V và ông Diệp Văn H phải chịu 1.318.500đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông Nguyễn Văn T, bà Lâm Thùy L khởi kiện ông Diệp Văn H, bà Trần Kim V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T và bà Lâm Thùy L. Buộc bà Trần Kim V và ông Diệp Văn H trả cho ông Nguyễn Văn T và bà Lâm Thùy L 4,5 chỉ vàng 24k (bốn chỉ năm phân vàng hai mươi bốn kara).
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 272/2023/DS-ST
Ngày 09-11-2023
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Trạng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Ảnh

Ông Hồ Thanh Phong

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Kim Thia là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 09 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 528/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 343/2023/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: Ấp TH, xã Tạ AKN, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (có mặt).

2. Bà Lâm Thùy Linh, sinh năm 1977; địa chỉ cư trú: Ấp TH, xã Tạ AKN, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn:

1. Ông Diệp Văn H; địa chỉ cư trú: Ấp TTB, xã TAKN, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

2. Bà Trần Kim V; địa chỉ cư trú: Ấp TTB, xã TAKN, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ông Nguyễn Văn T và bà Lâm Thùy L thống nhất trình bày: Ngày 18/12/2001, ông bà đã cho ông H, bà V vay 10 chỉ vàng 24k, lãi suất 05 phân/tháng, không thỏa thuận thời hạn trả. Sau khi vay, bị đơn đã trả được 5,5 chỉ vàng 24k vốn. Cụ thể: Ngày 18/7/2006 âl trả được 01 chỉ, ngày 14/02/2021 âl trả 03 chỉ, ngày 02/9/2022 trả 01 chỉ và ngày 15/6/2023 trả 0,5 chỉ. Ông T và bà L yêu cầu bà V, ông H trả lại số vàng còn thiếu 4,5 chỉ vàng 24k.

Đối với ông Diệp Văn H và bà Trần Kim V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng các đương sự vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ông Diệp Văn H và bà Trần Kim V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các đương sự trên là phù hợp.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng: Theo Biên nhận đứng tên Trần Kim V, Biên bản hòa giải ở cơ sở ngày 15/5/2023 và lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Ngày 18/12/2001 âl, bà V, ông H có vay của ông T, bà L 10 chỉ vàng 24k, thỏa thuận lãi suất 05 phân/tháng, không thỏa thuận thời hạn trả. Sau khi vay, bị đơn đã trả 5,5 chỉ vàng 24k, còn nợ lại 4,5 chỉ vàng 24k.

Đối với bà Trần Kim V và ông Diệp Văn H đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có văn bản giải trình liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định bà V, ông H có nợ của ông T, bà L 4,5 chỉ vàng 24k. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, bà L. Buộc bà V, ông H trả cho ông T, bà L 4,5 chỉ vàng 24k.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông T, bà L không phải chịu, đã nộp tạm ứng số tiền 624.000đ, được nhận lại. Bà V, ông H phải chịu 26.370.000đ (4,5 chỉ vàng 24k x 5.860.000đ) x 5% = 1.318.500đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 91; khoản 2 Điều 92; Điều 147, điểm b khởn 2 Điều 227; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T và bà Lâm Thùy L. Buộc bà Trần Kim V và ông Diệp Văn H trả cho ông Nguyễn Văn T và bà Lâm Thùy L 4,5 chỉ vàng 24k (bốn chỉ năm phân vàng hai mươi bốn kara).

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn T và bà Lâm Thùy L không phải chịu, đã nộp tạm ứng án phí 624.000đ (sáu trăm hai mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000411 ngày 03/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được nhận lại. Bà Trần Kim V và ông Diệp Văn H phải chịu 1.318.500đ (một triệu ba trăm mười tám nghìn năm trăm đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ