- Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn minh t - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 272/2022/HS-ST Ngày 15 /12/2022 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thanh Thúy
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Cường
Bà Hồ Thị Lan
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Bằng - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 236/2022/TLST- HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 267/2022/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: T, sinh ngày 22 tháng 02 năm 1988 tại NA; Nơi cư trú: Tổ 6A, khu 7, phường X, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Nguyễn Minh Th và con bà Vi Thị T ; có vợ là Vũ Thùy V và có 02 con (con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang thực hiện biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh của Tòa án nhân dân thành phố H; có mặt.
- Bị hại:
1. Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Đào Quang D (đã chết): bà Hoàng Thị Tuyết, sinh năm 1977; địa chỉ: thôn Đồng Cao, xã Thống Nhất, huyện Hoành Bồ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
2. Anh Hà D K, sinh năm 2003; địa chỉ: xóm Nương, xã Tiên Lãng, huyện Tiên Yên, thành phố H; vắng mặt.
3. Anh Lê Đình K, sinh năm 1989; địa chỉ: tổ 5, khu 9, phường Thanh Sơn, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Người làm chứng: anh Lê Đức Q; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/7/2021, T (có giấy phép lái xe ô tô hạng C hợp lệ) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát (BKS) 14A-459.63, trên xe có anh Lê Đình K, sinh năm 1989, trú tại phường Th, thành phố U, ngồi ở ghế trước bên phải (ghế phụ), đi trên quốc lộ 18A, hướng từ phường Y, thành phố H về thành phố Uông Bí. Đến khoảng 23 giờ 05 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô đến khu vực Km 111 + 950 Quốc lộ 18A, đoạn ngã ba giao nhau cùng mức thuộc tổ 8, khu 1, phường Giếng Đáy, thành phố H thì phát hiện thấy xe mô tô BKS 14P5-2736, do anh Đào Quang D, trú tại thôn Đ , xã Th, thành phố H điều khiển, phía sau chở anh Hà D K, trú tại thôn Xóm Nương, xã T, huyện T tỉnh Quảng Ninh đi từ đường nhánh Giếng Đáy ra Quốc lộ 18A được 10,85 mét, để chuyển hướng rẽ trái về phía cầu Bãi Cháy đã không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, dẫn đến phần góc bên phải đầu xe ô tô do T điều khiển đã đâm vào phần đầu xe mô tô BKS 14P5-2736, gây tai nạn.
Hậu quả: các anh Đào Quang D, Hà D K và Lê Đình K bị thương tích. Riêng anh D bị thương tích nặng được đưa đi điều trị tại bệnh viện đến ngày 02/10/2021 thì tử vong. Xe ô tô BKS 14A-459.63 và xe mô tô BKS 14P5-2736 bị hư hỏng.
Khám nghiệm hiện trường: nơi xảy ra tai nạn là ngã ba giao nhau giữa quốc lộ 18 và đường Giếng Đáy nằm bên phải quốc lộ 18 theo hướng cầu Bãi Cháy đi ngã tư Ao Cá. Quốc lộ 18 là đường đôi, có giải phân cách giữa phân chia 2 chiều đường riêng biệt, mặt đường bê tông nhựa, cong từ phải sang trái theo hướng cầu Bãi Cháy đi ngã tư Ao Cá. Tại nơi xảy ra tai nạn, dải phân cách giữa ngắt quãng, trên mỗi đầu dải phân cách ngắt quãng có cắm biển báo P.102 “Cấm đi ngược chiều” và biển R.302a “Hướng phải đi vòng chướng ngại vật”. Khoảng cách giữa 02 đầu dải phân cách ngắt quãng là 56,8m, chiều rộng toàn bộ mặt đường nơi dải phân cách ngắt quãng là 31,5m. Tai nạn xảy ra trên chiều đường hướng cầu Bãi Cháy đi ngã tư Ao Cá, rộng 14m, có các vạch sơn phân chia thành 04 làn đường. Phía trước nơi xảy ra tai nạn theo hướng cầu Bãi Cháy đi ngã tư Ao Cá có các vạch sơn giảm tốc và vạch sơn dành cho người đi bộ sang đường.
Các dấu vết phương tiện đo đến mép đường bên phải kéo dài của quốc lộ 18 theo hướng cầu Bãi Cháy đi ngã tư Ao Cá. Trên mặt đường có đám vết tỳ miết, trượt xước kích thước (0,6x0,1)m, hướng từ phía cầu Bãi Cháy về ngã tư Ao Cá và chếch từ phải sang trái, ký hiệu số (01). Điểm đầu vết có bám dính chất màu đen, từ điểm gần nhất của đầu và cuối vết đo đến mép đường lần lượt là 10,85m và 11m. Từ điểm đầu vết đo về phía đi cầu Bãi Cháy, chiếu vuông góc đến dải phân cách ngắt quãng là 27m; chiếu vuông góc đến cột Km112 là 45,5m và đo đến vạch sơn giảm tốc gần nhất là 58,9m. Cách điểm đầu vết (1) 0,8m về phía ngã tư Ao Cá trên mặt đường có đám máu bắn tóe trên diện (4,4x0,7)m, ký hiệu số (02), hướng từ phía cầu Bãi Cháy về ngã tư Ao Cá. Từ điểm gần nhất của đầu và cuối đám máu bắn tóe đo đến mép đường lần lượt là 10,55m và 9,7m. Cách điểm đầu vết (01) 02m về phía đi ngã tư Ao Cá và chếch sang phải là điểm đầu vết xước kích thước (2,45x0,3)m, ký hiệu số (3) có hướng từ phía cầu Bãi Cháy về ngã tư Ao Cá và chếch sang phải. Từ điểm đầu vết đo đến mép đường là 9,7m, cuối vết tương ứng với vị trí giá để chân trước bên trái xe mô tô BKS 14P5-2736 nằm đổ nghiêng sang trái tỳ trên mặt đường, ký hiệu số (4), phần bánh trước bị đứt rời khỏi xe, tay ghi đông và đầu xe hướng về phía đi cầu Bãi Cháy và chếch về mép đường, đuôi xe hướng về phía đi đường Giếng Đáy và chếch về phía đi ngã tư Ao Cá. Từ vị trí cổ phốt và trục bánh sau xe đo đến mép đường lần lượt là 9,2m và 8,3m. Cách điểm đầu vết tỳ miết trượt xước ký hiệu số (1) 02m về phía đi ngã tư Ao Cá và anh chếch sang trái, trên mặt đường có vết trượt miết mất bụi, kích thước (26,9x0,12)m, ký hiệu số (5), hướng từ phía cầu Bãi Cháy về ngã tư Ao Cá và chếch sang từ phải sang trái. Từ điểm gần nhất của đầu vết đo đến mép đường là 11,45m; cuối vết trùng với vị trí bánh trước bên phải xe ô tô BKS 14A-459.63 và mảnh lót chắn bùn xe ô tô tỳ trên mặt đường. Cách điểm đầu vết trượt miết ký hiệu số (5) 2,9m về phía ngã tư Ao Cá, trên mặt đường có đám máu không rõ hình trên diện (0,5x0,3)m, ký hiệu số (6). Tâm đám máu cách mép đường là 12,45m. Cách trục bánh sau xe mô tô BKS 14P5-2736 4,6m về phía đi ngã tư Ao Cá có đám máu không rõ hình, kích thước (1,7x0,45)m, ký hiệu số (7). Tâm đám máu cách mép đường 11,2m. Cách tâm đám máu 2,6m về phía ngã tư Ao Cá, trên mặt đường có vết xước không liên tục dài tổng cộng 16,8m, rộng nhất là 0,07m, hướng từ phía cầu Bãi Cháy về ngã tư Ao Cá, ký hiệu số (8), từ điểm đầu vết đo đến mép đường là 10,7m, cuối vết trùng với vị trí bánh trước và giảm xóc trước xe mô tô bị gãy rời nằm trên mặt đường, phần bánh trước và giảm xóc trước xe nằm nghiêng sang trái được ký hiệu số (9). Từ vị trí trục bánh đo đến mép đường là 12m. Xe ô tô BKS 14A-459.63 đỗ, đầu xe hướng về phía đi ngã tư Ao Cá và chếch sang trái, ký hiệu số (10). Từ đầu trục bánh trước bên phải và đầu trục bánh sau bên phải xe ô tô đo đến mép đường lần lượt là 20,9m và 20,1m. Từ vị trí xe mô tô BKS 14P5-2736 nằm đổ nghiêng trên mặt đường có đám mảnh nhựa, pha đèn vỡ rơi trên diện (27x7)m.
Nhà chị Đoàn Thị Nh, sinh năm 1989, trú tại: Tổ 1, khu 10, phường B, thành phố H nằm bên trái quốc lộ 18 theo hướng Cầu Bãi Cháy đi ngã tư Ao Cá có lắp camera bảo vệ hướng ra quốc lộ 18 và chếch về phía đi ngã tư Ao Cá. Từ vị trí camera đo về phía đi ngã tư Ao Cá chiếu vuông góc với vị trí đầu vết số (1) là 25,6m.
Khám nghiệm xe ô tô BKS 14A-459.63: Phía bên phải ba đờ xốc trước có vết tỳ xước sơn, nứt vỡ nhựa, dập, bật chốt liên k hướng từ trước về sau, từ phải sang trái trên diện (45x40)cm; Cụm đèn chiếu sáng, xi nhan trước bên phải bị xô lệch hướng từ trước về sau, từ phải sang trái, tai đèn bị gãy. Cạnh ngoài bị tỳ xước, nứt vỡ nhựa, dính chất màu đen trên diện (38x8)cm, điểm thấp nhất cách đất 67,5cm; Bình đựng nước rửa kính bị nứt vỡ, xô lệch hướng từ phải sang trái; Phần trước phía tai xe bên phải bị tỳ xước, bong sơn, bẹp móp cong vênh kim loại rải rác dính chất màu đen, xanh, hướng từ trước về sau, từ phải sang trái trên diện (37x27)cm, điểm thấp nhất cách đất 55cm. Phần phía sau tai xe bị tỳ chùi mất bụi, bẹp lõm kim loại rải rác dính chất màu xám in hình kẻ sọc song song cách đều nhau, hướng từ trước về sau trên diện (50x56)cm, điểm thấp nhất cách đất 52cm. Phần phía trên tai xe bên phải tỳ sát vào góc dưới kính chắn gió trước gây nứt vỡ kính chắn gió trước; Gương chiếu hậu bên phải bị gãy rời khỏi vị trí, ốp lưng gương chiếu hậu có vết tỳ chùi mất bụi bám dính chất màu đen in hình sọc kẻ song song cách đều nhau trên diện (8x4)cm, hướng từ trước về sau; Mặt ngoài cánh cửa trước bên phải bị tỳ chùi mất bụi, xước sơn, bẹp móp kim loại rải rác dính chất màu xanh, đen in hình sọc kẻ song song cách đều nhau, hướng từ trước về sau trên diện (109,5x57)cm điểm thấp nhất cách đất 37,5cm. Kính chắn gió cánh cửa trước bên phải và vè che mưa phía trên bị vỡ; Mặt ngoài cạnh phía sau khung hình chắn gió cánh cửa trước bên phải có bám dính tóc; Má ngoài lốp bánh trước bên phải và mặt ngoài la răng bánh lái trước bên phải bị tỳ xước cao su, kim loại, hướng từ ngoài vào tâm trên diện (62x25)cm, rải rác dính chất màu đen, xanh; Mặt ngoài phần phía trên khung xe bên phải bị tỳ chùi mất bụi bẹp lõm kim loại rải rác dính chất màu đen và máu trên diện (83x7)cm, hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách mặt đất 110cm; Mặt ngoài cánh cửa sau bên phải bị tỳ chùi mất bụi, bẹp móp kim loại, hướng từ trước về sau trên diện (39x45)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 50cm, rải rác dính chất màu xanh; Vè che mưa cánh cửa sau bên phải bị nứt vỡ nhựa mất mảnh trên diện (67x3,5)cm; Mặt ngoài hông xe bên phải bám dính máu dạng bắn tóe hướng từ trước về sau, rải rác trên diện (85x50)cm, điểm thấp nhất cách đất 65cm. Hệ thống lái đầy đủ, xoay vô lăng thấy 02 bánh trước xoay theo. Phanh trước, phanh sau có đầy đủ các bộ phận. Gương chiếu hậu bên phải vỡ hỏng.
Khám nghiệm xe mô tô BKS 14P5-2736: Đầu trên càng giảm xóc trước và bánh trước bị gãy rời khỏi xe tại vị trí phía dưới cổ phốt, vết gãy mới, sáng ánh kim, hướng từ trước về sau; mặt lăn má bên phải lốp bánh trước và cạnh bên phải vành bánh trước phía trong liền kề bì tỳ chùi mất bụi, xước rách cao su, xước kim loại, hướng từ ngoài vào tâm trên diện (6x22)cm. Cách đám vết này 30cm theo hướng cùng chiều kim loại hướng từ tâm ra ngoài trên diện (13x6)cm; Cạnh trước đĩa phanh bánh trước bám dính sơn màu trắng trên diện (6,5x0x1)cm; Vành bánh trước bị cong vênh biến dạng, má bên trái lốp và cạnh bên trái vành bánh trước bị tỳ xước cao su, kim loại dính chất bột màu trắng; Mặt ngoài phía dưới càng giảm xóc trước trái bị mài xước kim loại rải rác dính chất bộ màu trắng trên diện (5,5x1)cm; Chắn bùn trước bánh trước bị dập vỡ nhựa, mất mảnh; Phần phía trước mặt hình đèn chiếu sáng trước bị tỳ xước nhựa dính chất màu trắng hướng từ trên xuống dưới kích thước (2,5x1,5)cm; Mặt trước còi xe bị tỳ chùi mất bụi, bẹp móp kim loại dính chất màu đen, hướng từ trước về sau trên diện (4x5)cm; Cạnh bên trái phấn dưới cổ phốt có vết tỳ chùi mất bụi dính chất màu trắng hướng từ trước về sau trên diện (5,5x5)cm; Mặt trước ốp nhựa phía ngoài bầu lọc gió bị nứt vỡ nhựa trên diện (20x9)cm.; Mặt trước phía bên phải bộ phận tản nhiệt máy xe bị tỳ xước kim loại hướng từ trước về sau trên diện (5x1)cm; Mặt nạ xe, cánh yếm hai bên bị nứt vỡ nhựa bật rời, khỏi vị trí; Đầu nắm tay cầm bên trái ghi đông bị mài xước kim loại hướng từ trước về sau kích thước (4x1,5)cm; Đấu giá để chân trước bên trái bị mài xước kim loại dính chất màu trắng kích thước (1x0,8)cm; Mặt ngoài phía bên trai tay xách yên xe bị mài xước kim loại dính chất bột màu trắng kích thước (2,5x2)cm. Đầu dưới dây phanh bánh trước bị đứt rời tại vị trí nối vào cụm má phanh. Phanh sau có đủ các bộ phận, quay bánh đạp phanh thấy bánh dừng lại. Gương chiếu hậu hai bên không ở xe.
Xét nghiệm nồng độ cồn trong máu Đào Quang D tại bệnh viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh hồi 23 giờ 56 phút ngày 06/7/2021, k quả: 39,1mmol/lít máu quy đổi bằng 180,173 mg/100mililit máu.
Tại Bản k luận giám định pháp y về tử thi số 2165/KLGĐ ngày 18/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, k luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân chết của anh Đào Quang D là do chấn thương sọ não không hồi phục, viêm phổi.
Tại Bản k luận giám định pháp y về thương tích số 611/21/TgT ngày 13/8/2021 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế Quảng Ninh, k luận: Anh Hà D K bị tổn thương 62% (sáu mươi hai phần trăm) cơ thể.
Tại Bản k luận giám định pháp y về thương tích số 54/22/TgT ngày 18/01/2022 của Trung tâm Pháp y, Sở Y tế Quảng Ninh, k luận: Anh Lê Đình K bị tổn thương 03% (ba phần trăm) cơ thể.
Tại Bản k luận giám định số 280/KLGĐ ngày 20/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, k luận: Xe ô tô biển số 14A-459.63 và xe mô tô biển số 14P5-2736 có va chạm với nhau. Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện tại vị trí góc phía trước bên phải đầu xe ô tô biển số 14A-459.63 với đầu xe mô tô biển số 14P5-2736. Dấu vết va chạm tại góc phía trước bên phải xe ô tô có hướng từ trước về sau, từ phải sang trái. Dấu vết va chạm tại đầu xe mô tô có hướng từ trước về sau, từ trái sang phải. Hai phương tiện va chạm với nhau khi xe ô tô biển số 14A-459.63 đang di chuyển theo hướng cầu Bãi Cháy đi ngã tư Ao Cá, xe mô tô biển số 14P5-2736 đang di chuyển theo hướng đường Giếng Đáy đi Quốc lộ 18 chuyển hướng rẽ trái về hướng Cầu Bãi Cháy.
Tại Bản k luận định giá tài sản số 159/KLĐGTS ngày 23/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H, k luận: Giá trị thiệt hại của chiếc xe mô tô BKS 14P5-2736 là 784.000 đồng (Bảy trăm tám mươi bốn nghìn đồng); Giá trị thiệt hại của chiếc xe ô tô BKS 14A-459.63 là 31.739.500 đồng (Ba mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi chín nghìn năm trăm đồng).
Tại bản Cáo trạng số 244/CT – VKSHL ngày 31/10/2022, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố bị cáo T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu và thừa nhận bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh truy tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
Bị hại anh Lê Đình K và người đại diện bị hại anh Đào Quang D là bà Hoàng Thị Tuyết có nội dung trình bày như lời khai trong quá trình điều tra. Anh K không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự vì thương tích không đáng kể. Đối với bà Tuyết, gia đình đã nhận tiền bồi thường, không có yêu cầu gì thêm; bà Tuyết xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị hại anh Hà D K, người làm chứng anh Lê Đức Qu vắng mặt tại phiên tòa, trong hồ sơ có lời khai thể hiện về thời gian, địa điểm xảy ra vụ án. Anh K đã nhận tiền bồi thường và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo (bút lục từ 188-190, từ 196-199).
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H, thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên truy tố như bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và về vật chứng vụ án đã được giải quyết trong quá trình điều tra nên không đề cập xử lý.
Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt, cải tạo tại địa phương để có điều kiện chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng: Những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, của Điều tra viên, của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và hình phạt:
2.1 Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, đại diện bị hại, người làm chứng, k quả khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, biên bản xem xét nội dung clip thu giữ từ hệ thống camera ghi lại diễn biến sự việc, bản k luận giám định pháp y thương tích, k luận định giá tài sản cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở k luận:
Khoảng 23 giờ 05 phút ngày 26/6/2021, tại khu vực Km 111 + 950 Quốc lộ 18A, đoạn ngã ba giao nhau cùng mức thuộc tổ 8, khu 1, phường Giếng Đáy, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, T (có giấy phép lái xe hạng C hợp lệ) điều khiển xe ô tô BKS 14A-4549.63, trên xe có anh Lê Đình K đang ngồi ở vị trí ghế phụ, đi từ hướng Cầu Bãi Cháy về ngã tư Ao Cá, đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên phần góc phía trước bên phải đầu xe ô tô đã đâm vào phần đầu xe mô tô BKS 14P5-2736 do anh Đào Quang D điều khiển, phía sau chở anh Hà D K từ đường nhánh Giếng Đáy ra Quốc lộ 18A để rẽ trái đi về phía Cầu Bãi cháy. Hậu quả: anh Đào Quang D tử vong, Hà D K và Lê Đình K bị thương tích, với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của hai người là 65% (Sáu mươi lăm phần trăm) ; xe mô tô BKS 14P5-2736 bị hư hỏng thiệt hại 784.000 đ (Bảy trăm tám mươi bốn đồng).
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi vô ý. Bị cáo đã không giảm tốc độ khi qua nơi đường giao nhau cùng mức là vi phạm khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2018 của Bộ Giao thông vận tải. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp“làm chết người” và“gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương có thể của những người này từ 61% đến 121%” nên đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
2.2 Về hình phạt :
- Về hình phạt chính: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại Đào Quang D là bà Hoàng Thị T và bị hại Hà D K đều xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo và mặc dù bị cáo thực hiện lỗi vô ý nhưng hành vi phạm tội bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, dẫn đến hậu thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của người khác nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và cần phải áp dụng hình phạt tù để giáo dục riêng đối với bị cáo cũng như để phòng ngừa tội phạm chung.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng bổ sung đối với bị cáo
Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị hại đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về chấp hành hình phạt: Bị cáo có nhân thân tốt, có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Vụ án thuộc lỗi hỗn hợp, trong đó phần lỗi lớn của bị hại Đào Quang D. Vì vậy, xét thấy có thể xem xét, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo, tự cải tạo, có sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và gia đình cũng đảm bảo tính răn đe; việc này không gây nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phù hợp hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo , thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho anh Hà D K số tiền 37.000.000đ (Ba mươi bảy triệu đồng) và đại diện gia đình anh Đào Quang D số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Anh Lê Đình K không có yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe; không ai có đề nghị gì khác nên không đề cập xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản thu giữ cho chủ sở hữu hơp pháp nên không đề cập giải quyết.
Về biện pháp ngăn chặn: Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù nhưng xem xét cho bị cáo được hưởng án treo nên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo.
Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi liên quan: Bị hại Đào Quang D điều khiển xe mô tô trong tình trạng có nồng độ cồn trong cơ thể (vi phạm khoản 8, Điều 8 Luật Giao thông đường bộ), từ đường nhánh ra đường chính không nhường đường theo quy định (vi phạm khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ), gây tai nạn làm anh K và anh K tổn hại 65% cơ thể, xe ô tô biển kiểm soát 14A-459.63 hư hỏng, thiệt hại 31.739.500đồng. Hành vi của Đào Quang D có dấu hiệu của tội ‘Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 26 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Đào Quang D đã tử vong nên không đề cập xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo T 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường X, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 239A /LCĐKNCT ngày 01/11/2022 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh 139A/2022/HSST – QĐTHXC ngày 01/11/2022 đối với bị cáo.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23, danh mục án phí Toà án của Nghị quyết số 326 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo, bị hại, đại diện bị hại; - VKSND tp. H; - CQĐT CA tp. H; - Cơ quan THAHS tp. H; - Chi cục THADS tp. H; - UBND ph.Cao Xanh, tp. H; - VKSND, TAND tỉnh Quảng Ninh; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thanh Thúy |