vanban.org

Bản án 272/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích C,

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích C được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ. Giấy chứng nhận kết hôn số 36/HT ngày 20 tháng 03 năm 2009 do Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Mỹ, thị xã Châu Đốc (nay là thành phố Châu Đốc), tỉnh An Giang cấp cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Bích C không còn giá trị pháp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA Chi - Đỉnh"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích C,
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 272/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 23 - 06 - 2022
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia
đình, ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Sáu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Phước Tân;

2. Ông Ngô Văn Thi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Chúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 135/2022/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 283/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 5 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 326/2022/QĐST-DS, ngày 30 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích C, sinh năm 1991; đăng ký hộ khẩu Tờng trú: Tổ X, ấp B, xã N, huyện An Phú, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: Số Y, khóm C1, phường V, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ (Đ1), sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ X, ấp B, xã N, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, bà C có mặt, ông Đ vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Bích C và ông Nguyễn Văn Đ là do tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Mỹ, thị xã Châu Đốc (nay là thành phố Châu Đốc), tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 36/HT ngày 20 tháng 03 năm 2009. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, Tờng cự cãi và 2 người đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay.

Sau khi ly thân, bà C về nhà cha mẹ ruột sinh sống tại thành phố Châu Đốc cho đến nay. Trong thời gian ly thân thì ông Đ cũng không đến thăm nom, chăm sóc vợ con; không liên lạc qua lại. Nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà C xin ly hôn.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà C và ông Đ có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 24/09/2009. Hiện cháu T đang sinh sống cùng bà C. Bà C có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dạy con chung và không yêu cầu ông Đĩnh cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng ông Đ đều vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến, nên không ghi nhận được ý kiến của ông Đĩnh. Bà C có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải.

Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú, tình trạng hôn nhân, ghi nhận ý kiến con chung:

Theo Biên bản xác minh ngày 12/05/2022 thì ông Nguyễn Văn Đ có đăng ký hộ khẩu và hiện sinh sống tại Tổ X, ấp B, xã N, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Theo biên bản ghi nhận ý kiến con chưa thành niên ngày 07/4/2022, cháu Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 24/09/2009 có nguyên vọng sống với bà C.

Tại phiên tòa, bà C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin được ly hôn với ông Đ và được trực tiếp nuôi dạy con chung.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là đúng quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Theo trình bày của bà C; tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà C và ông Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà C. Về người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, đề nghị chấp nhận theo yêu cầu của bà C, giao con chung cho bà C trực tiếp nuôi dạy và công nhận sự tự nguyện của bà C về việc không yêu cầu ông Đĩnh cấp dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Bích C khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ và có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn. Xác định quan hệ tranh chấp “ly hôn, nuôi con chung”. Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại ấp B, xã N, huyện An Phú, tỉnh An Giang, nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về việc đương sự vắng mặt: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Thông báo hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Đ vắng mặt không lý do. Như vậy ông Đ đã tự từ bỏ quyền tam gia tố tụng. Căn cứ Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử mà không qua thủ tục hòa giải và căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Đĩnh.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Theo trình bày của bà C, kết quả xác minh được biết, nguyên nhân mâu thuẫn trong tình cảm giữa bà C và ông Đ là do bất đồng quan điểm sống và ảnh hưởng đời sống kinh tế gia đình. Ông Đ còn thường tham gia tệ nạn, không quan tâm chăm lo cuộc sống gia đình. Bà C và ông Đ đã ly thân từ năm 2015. Trong thời gian ly thân, cũng như trong thời gian Tòa án tiến hành giải quyết, ông Đ không có hành động thể hiện sự hàn gắn và không có ý kiến về việc bà C xin ly hôn. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa bà C và ông Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Bích C là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Xét thấy cháu Nguyễn Thị Ngọc T đang được bà C nuôi dạy tốt. Cháu T cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng bà C sau khi bà C và ông Đ ly hôn. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu T cho bà C trực tiếp nuôi dạy sẽ ổn định việc học tập, tâm lý, sự phát triển bình thường của cháu.

Công nhận sự tự nguyện của bà C về việc không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà C không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét giải quyết. Nếu ông Đ có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì khởi kiện và sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.

Về C phí tố tụng:

Về án phí, bà Nguyễn Thị Bích C là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, ông Nguyễn Văn Đ không phải chịu án phí.

Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các điều 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích C,

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích C được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.

Giấy chứng nhận kết hôn số 36/HT ngày 20 tháng 03 năm 2009 do Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Mỹ, thị xã Châu Đốc (nay là thành phố Châu Đốc), tỉnh An Giang cấp cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Bích C không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Bích C được trực tiếp nuôi dạy con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 24/09/2009.

Ông Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Ông Nguyễn Văn Đ và các thành viên trong gia đình phải tôn trọng quyền được trực tiếp nuôi con của bà nguyễn Thị Bích C. Ngược lại, bà C và các thành viên trong gia đình phải tôn trọng quyền được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của ông Đ.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bích C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà C đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006896 ngày 15/03/2022. (Bà C đã nộp đủ).

4. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai có mặt bà Nguyễn Thị Bích C. Thời hạn kháng cáo của bà C là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ là 15 ngày kể từ ngày Bản án này được tống đạt hợp lệ theo quy định.

Cỡ chữ