vanban.org

Bản án 272/2017/DS-PT — Tranh chấp đất đai

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 26/09/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Nguyễn Văn T-Trần Văn T2"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH N TH P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 272/2017/DS-PT
Ngày: 26-9-2017
V/v tranh chấp ranh gi i
quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘN HÒA XÃ HỘI CHỦ N HĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH N TH P

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Vĩnh.

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Mai;

Bà Nguyễn Thị Võ Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phan Trung Quốc - i m sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2017 t i trụ s Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 137/2017/TLPT-DS ngày 16 tháng 8 năm 2017 về việc “Tranh chấp dân sự Ranh gi i quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2017 DS-ST ngày 07 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện L bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 189/2017/QĐ-PT ngày 29 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Văn T, sinh năm 1951;

Địa ch : số 48, ấp V, xã Bình T2, huyện L, t nh Đ ng Tháp.

- Bị đơn: Trần Văn T2, sinh năm 1961;

Địa ch : số 53, ấp V, xã Bình T2, huyện L, t nh Đ ng Tháp.

Người đại diện ủy quyền của bị đơn: Anh Trần Minh Đ, sinh năm 1984 theo văn bản ủy quyền ngày 22/9/2017.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Trương Thị N, sinh năm 1952;

+ Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978;

+ Dương Thị H, sinh năm 1988;

Cùng địa ch : số 48, ấp V, xã B, huyện L, Đ ng Tháp.

Người đại diện ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn T2, Dương Thị H là ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1951 theo văn bản ủy quyền 25/9/2017.

+ Bùi Thị K, sinh năm 1960;

+ Trần Thị N, sinh năm 1986;

+ Trần Minh Đ, sinh năm 1984;

+ Trần Minh H1, sinh năm 1982;

Cùng địa ch : số 53, ấp V, xã B, huyện L, t nh Đ ng Tháp.

Người đại diện ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bùi Thị K, Trần Thị N là anh Trần Minh Đ, sinh năm 1984 theo văn bản ủy quyền ngày 22/9/2017.

* Người kháng cáo: Ông Trần Văn T2 là bị đơn.

NỘI DUN VỤ N

- Nguyên đơn Nguyễn Văn T - đ ng thời là đ i diện ủy quyền của anh Nguyễn Văn T2, Dương Thị H trình bày:

Ông Nguyễn Văn T có phần đất diện tích 2.073,3m2, thuộc thửa 08, tờ bản đ 32 đất tọa l c xã B, huyện L. Phần đất này một đầu giáp Quốc lộ 80 và đất của ông Nguyễn Văn H4; một đầu giáp thủy lợi và một c nh giáp đất của ông Trần Văn T2. Ranh đất giữa ông T v i ông T2 trư c đây mẹ ông T2 có đào con mương đ làm ranh, còn phía bên ông T thì có tr ng hàng sao cặp ranh. Năm 2016 thì phía ông T2 sang lấp con mương và làm hàng rào bằng lư i B40 lấn qua phần đất của ông T theo đo đ c thực tế đầu giáp đất ông H4 tính từ trụ đá kéo về đất ông T2 là 30cm là đi m M4, đầu giáp thủy lợi tính từ trụ đá do phía ông T2 tr ng kéo về đất ông T2 là 76cm là đi m M3, dài từ đất ông H4 đến thủy lợi.

Nay ông Nguyễn Văn T yêu cầu ông Trần Văn T2 tháo dỡ hàng rào trả l i phần đất lấn chiếm đầu giáp đất ông H4 tính từ trụ đá kéo về đất của ông T2 có chiều ngang là 30cm là đi m M4, đầu giáp thủy lợi tính từ trụ đá của ông T2 tr ng kéo về đất ông T2 có chiều ngang 0,76m là đi m M3. Nối đi m M4 đến đi m M3 là đường thẳng theo sơ đ đo đ c ngày 10/01/2017 và 09/6/2017 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện L. Nếu cây tr ng vật kiến trúc của bên ông T lấn qua đất ông T2 thì ông T tự tháo dỡ di dời .

Ông T đ ng ý giá trị phần đất đang tranh chấp là 100.000đ/m2.

- Bị đơn Trần Văn T2 – đ i diện ủy quyền anh Trần Minh Đ, anh Đ đ ng thời là đ i diện ủy quyền của bà Bùi Thị K, Trần Thị N trình bày:

Ông Trần Văn T2 có phần đất diện tích 2.056,4m2, thuộc thửa 14, tờ bản đ số 32 tọa l c xã B, huyện L. Đất của ông T2 một đầu giáp đất ông H4, bà C, bà L, bà T và bà K (bà K là vợ ông T2), một đầu giáp thủy lợi, một c nh giáp giáp đất ông T và một c nh giáp đất của ông L (ông L là cha của ông T2).

Ranh đất giữa ông T2 v i ông T thì phía bên ông T2 trư c đây mẹ của ông T2 có đào con mương đ làm ranh, còn phía bên ông T có tr ng hàng cây Sao đ làm ranh. Năm 2005 thì hai bên đã xác định là đầu giáp đất ông H4 có tr ng trụ đá hiện vẫn còn, còn đầu giáp kênh thủy lợi có tr ng trụ đá nhưng đã bị nhổ bỏ. Năm 2016 ông T2 tr ng l i trụ đá đầu giáp thủy lợi ngay vị trí trụ đá cũ trư c đây và san lấp con mương làm hàng rào bằng trụ đá rào lư i B40. Nay ông T2 không đ ng ý trả l i phần đất cho ông T chiều ngang đầu giáp đất ông H4 là 30cm, đầu giáp thủy lợi có chiều ngang 0,76m. ông T2 xác định ranh gi i quyền sử dụng đất v i ông T đầu giáp đất ông H4 có trụ đá là đi m M5 kéo đến trụ đá do ông T2 tr ng giáp kênh thủy lợi là đi m M2. Nối M5 đến đi m M2 là đường thẳng theo sơ đ đo đ c ngày 10/01/2017 và 09/6/2017 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện L, nếu cây tr ng vật kiến trúc của bên ông T2 lấn qua đất ông T thì ông T2 tự tháo dỡ di dời và thống nhất giá trị đất đang tranh chấp là 100.000đ/m2.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Minh H1 thống nhất v i ý kiến trình bày của anh Trần Minh Đ, không có ý kiến khác.

- Bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2017/DS-ST ngày 07/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện L đã quyết định:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc xác định ranh gi i quyền sử dụng đất.

Xác định ranh gi i quyền sử dụng đất giữa thửa 08 của ông Nguyễn Văn T v i thửa 14 của ông Trần Văn T2 cùng tờ bản đ số 32, đất tọa l c xã Bình T2, huyện L, t nh Đ ng Tháp như sau:

- Đầu giáp đất ông Nguyễn Thanh H4 là đi m M5 (Trụ đá)

- Đầu giáp thủy lợi là đi m A.

Nối đi m M5 đến đi m A, có chiều dài 31,31m T2 đường thẳng đó ra ranh gi i quyền sử dụng đất thửa 08 của ông T v i thửa 14 của ông T2. (Kèm sơ đồ đo đạc ngày 10/01/2017 và sơ đồ ngày 09/6/2017).

Ranh gi i được xác định theo chiều thẳng đứng từ không gian xuống lòng đất nếu cây tr ng, vật kiến trúc của bên nào lấn sang phần đất bên kia thì tháo dỡ di dời.

- Chi phí xem xét thẩm định t i chổ:

Ông Nguyễn Văn T và Trần Văn T2 mỗi bên chịu chi phí thẩm định là 2.005.000đ ng. Do số tiền này ông T đã t m nộp xong, nên buộc ông T2 hoàn trả cho ông T số tiền 2.005.000đ ng.

- Án phí:

Ông Nguyễn Văn T chịu án phí dân sự sơ thẩm là 200.000đ ng, được khấu trừ vào số tiền t m ứng án phí đã nộp là 200.000đ ng theo biên lai thu tiền t m ứng án phí số 11463, ngày 05/10/2016, ông T đã nộp xong.

Ông Trần Văn T2 chịu án phí dân sự sơ thẩm là 200.000đ ng.

- Ngày 18/7/2017, bị đơn ông Trần Văn T2 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu xem xét l i vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

- T i phiên tòa phúc thẩm:

+ Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kh i kiện.

+ Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo không đ ng ý phần đất giáp kênh thủy lợi ông T lấn qua đất của ông 57cm. Đề nghị xem xét các biên bản hòa giải của Ủy ban nhân dân xã B T2 vào năm 2005, 2016 và biên bản ký giáp ranh khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đ ng thời căn cứ vào các trụ phía trư c và trụ phía sau đất đ cấm l i trụ mà ông T đã nhổ vào đầu năm 2016.

- Đ i diện Viện i m sát nhân dân T nh phát bi u ý kiến:

Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và t i phiên tòa phúc thẩm. Về nội dung: Đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án đã được ki m tra t i phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng t i phiên tòa, lời phát bi u của vị đ i diện Viện ki m sát.

NHẬN ỊNH CỦA TÒA N:

[1] Ngu n gốc đất tranh chấp:

Ngu n gốc đất của ông Nguyễn Văn T là do cha vợ ông T cho ông T sử dụng từ năm 1975 đến nay.

Ngu n gốc đất của ông Trần Văn T2 là do cha, mẹ ông T2 khai phá sau đó cho l i ông T2 sử dụng từ năm 1990 đến nay.

[2] Quá trình kê khai đăng ký quyền sử dụng đất:

+ Thửa đất số 8, tờ bản đ số 32, diện tích 2.370,3m2 (211,6m2 ONT, 2.158,7m2 CLN) do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 29/7/2013 cho hộ ông Nguyễn Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

+ Thửa đất số 14, tờ bản đ số 32, diện tích 2.056,4m2 (300m2 ONT, 1.756,4m2 CLN) do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 12/12/2008 cho ông Trần Văn T2, bà Bùi Thị K đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[3] Về diện tích đất thực tế đang sử dụng và diện tích phần đất tranh chấp:

Diện tích đất hiện tr ng sau khi đo đ c cụ th :

+ Thửa đất số 8, tờ bản đ số 32 hộ ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích 2.370,3m2; sau khi đo đ c thực tế phần đất có diện tích 2.342,6m2 (thiếu so v i diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng được cấp là 27,7m2).

+ Thửa số 14, tờ bản đ số 32, do hộ ông Trần Văn T2, bà Bùi Thị K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 2.056,4m2; sau khi đo đ c thực tế phần đất có diện tích 1.910,7m2 (thiếu so v i diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng được cấp là 145,7m2).

[4] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn T2 không đ ng ý bản án sơ thẩm xác định ranh phần đất giáp kênh thủy lợi ông T lấn qua đất của ông là 57cm.

Xét thấy, phần đất của ông T2, bà K thuộc thửa 14, tờ bản đ số 32, có một c nh giáp thửa đất số 8, tờ bản đ số 32 của hộ ông T. Xét ông T2 cho rằng đất của ông có ngu n gốc của cha mẹ đ l i cho ông sử dụng từ năm 1990 đến nay, giáp đất ông T, khi mẹ ông còn sống có đào 01 con mương đ làm ranh, đất của ông T thì phía ông T có tr ng hàng cây Sao đ xác định ranh đất v i hai bên. Vào năm 2005 giữa ông và ông T xác định ranh đất bằng cách tr ng trụ đá đầu giáp đất ông H4 có 01 trụ hiện trụ này vẫn còn, ông T2 và ông T thống nhất trụ đá này t i vị trí Mốc 5 theo sơ đ đo đ c ngày 10/01/2017 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện L, ông T cũng đ ng ý ranh đất giữa ông và ông T2 t i vị trí mốc 5; xét thấy thỏa thuận này của ông T2, ông T là tự nguyện và phù hợp nên Hội đ ng xét xử chấp nhận.

Theo ông T2, đầu đất giáp kênh thủy lợi cũng có 01 trụ đá làm ranh nhưng sau đó trụ đá này bị ông T nhổ mất, ông T không thừa nhận đã nhổ trụ đá này nhưng hộ ông T2 không có chứng cứ gì chứng minh ông T là người nhổ trụ đá. Năm 2016 ông T2 lấp con mương, làm hàng rào lư i B40 và tr ng l i trụ đá ngay vị trí cũ; tuy rằng năm 2005 các bên thỏa thuận tr ng trụ đá nhưng khi trụ đá bị mất ch một mình ông T2 tr ng l i trụ m i mà không có sự đ ng ý của ông T. Các biên bản hòa giải t i Ủy ban nhân dân xã B vào năm 2005, 2016 cũng không th hiện có tr ng trụ đá đ xác định ranh đất giữa ông T2 và ông T (đầu giáp kênh thủy lợi) t i vị trí nào, có kích thư c bao nhiêu. Xét thấy đất của ông T2 được cha mẹ đ l i sử dụng vào năm 1990 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, năm 2008 cấp đổi giấy; trư c khi cấp đổi vào năm 2007 có đo đ c những người có đất giáp ranh đều ký tên xác định vị trí đất của mình nhưng đối chiếu vào số liệu h sơ kỹ thuật thửa đất số 14 của ông T2 (BL 150) và trích lục bản đ địa chính thửa đất số 8 của ông T (BL 48) v i số liệu t i sơ đ đo đ c thực tế phần đất đang tranh chấp của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện L ngày 10/01/2017, ngày 09/6/2017 các số liệu có chênh lệch nhau nhưng không l n vẫn nằm trong tỷ lệ cho phép; b i tỷ lệ 1:500, nghĩa là 01cm trên bản đ bằng 05m trên thực địa; và hiện tr ng thực tế thì thửa đất số 8 của ông T và thửa đất số 14 của ông T2 đều thiếu hơn so v i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.

Cả ông T2, ông T đều xác nhận ranh đất của hai bên là con mương và hàng cây Sao, hiện tr ng con mương không còn đã bị ông T2 lấp, ch còn hiện tr ng hàng cây Sao do ông T tr ng đã hơn 30 năm (ông T tr ng cây Sao từ khi đất còn là của mẹ ông T2, trư c khi ông T2 được cho đất) nhưng mẹ ông T2 và sau này ông T2 cũng không tranh chấp. Ông T2 không đưa ra được chứng cứ chứng minh trụ đá t i vị trí mốc M2 (đầu giáp kênh thủy lợi) là ranh đất giữa ông và ông T vì thực tế hiện tr ng nếu từ trụ đá t i mốc M5 kéo đường thẳng đến trụ đá rào lư i B40 t i mốc M2 như ông T2 yêu cầu thì hàng cây Sao nằm qua đất ông T2 nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T2.

[4] T i phiên tòa, Vị đ i diện Viện ki m sát phát bi u ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán chủ tọa, Hội đ ng xét xử cũng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Xét đề nghị của Viện ki m sát là phù hợp nên Hội đ ng xét xử chấp nhận.

[5] V i những phân tích trên cho thấy, kháng cáo của ông T2 là không cơ s nên Hội đ ng xét xử không chấp nhận; Tòa án cấp sơ thẩm xử là có căn cứ pháp luật nên giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông Trần Văn T2 chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000đ ng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử:

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Trần Văn T2.

- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

- Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc xác định ranh gi i quyền sử dụng đất.

Ranh gi i quyền sử dụng đất giữa thửa 08 của hộ ông Nguyễn Văn T v i thửa 14 của ông Trần Văn T2, bà Bùi Thị K cùng tờ bản đ số 32, đất tọa l c xã B, huyện L, t nh Đ ng Tháp như sau:

- Đầu giáp đất ông Nguyễn Thanh H4 là đi m M5 (Trụ đá);

- Đầu giáp thủy lợi là đi m A;

(Mốc gửi từ mốc M5 đến mốc M4 là 0,30m; từ mốc M4 đến c nh góc nhà (WC) dài 34,47m); (Mốc gửi từ mốc A đến mốc M3 là 1,19cm; từ mốc M3 đến c nh góc nhà (WC) dài 29,3m).

Nối đi m M5 đến đi m A có chiều dài 31,31m T2 đường thẳng là ranh gi i quyền sử dụng đất giữa thửa 08 của hộ ông Nguyễn Văn T v i thửa 14 của ông Trần Văn T2, bà Bùi Thị K.

(Kèm biên bản xem xét thẩm định tại chổ, sơ đồ đo đạc ngày 06/01/2017, 10/01/2017, 09/6/2017 của Tòa án và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện L).

Ranh gi i được xác định theo chiều thẳng đứng từ không gian xuống lòng đất nếu cây tr ng, vật kiên trúc của bên nào lấn sang phần đất bên kia thì phải tháo dỡ di dời.

- Chi phí xem xét thẩm định t i chổ: Ông Nguyễn Văn T và Trần Văn T2 mỗi bên chịu là 2.005.000đ ng, số tiền này do ông T đã t m nộp xong, nên buộc ông T2 hoàn trả cho ông T 2.005.000đ ng.

- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn T chịu là 200.000đ ng, nhưng được trừ vào số tiền t m ứng án phí đã nộp là 200.000đ ng theo biên lai thu tiền t m ứng án phí số 11463 ngày 05/10/2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện L (ông T đã nộp xong).

Ông Trần Văn T2 chịu án phí dân sự sơ thẩm là 200.000đ ng t i Chi cục thi hành án dân sự huyện L.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn T2 chịu 300.000đ ng nhưng được trừ vào tiền t m ứng án phí đã nộp theo biên lai số 16556 ngày 19/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, t nh Đ ng Tháp (ông T2 đã nộp xong).

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực k từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ