vanban.org

Bản án 2716/2021/KDTM-ST — Tranh chấp về xây dựng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Thương mại; 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xây dựng — án kinh doanh thương mại — "Cty N- Cty V"
  • Tòa quyết gì? của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2716/2021/KDTM-ST
Ngày: 30-12-2021
V/v tranh chấp hợp đồng thi công

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thúy Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị Bé

2. Ông Trần Đăng Vạn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Dũng là Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ

Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng Duyên - Kiểm sát viên

Trong ngày 30 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố

Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh

thương mại thụ lý số: 15/2020/TLST-KDTM ngày 08/5/2020 về tranh chấp hợp

đồng thi công theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 6016/2021/QĐXXST-

KDTM ngày 06/12/2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Công trình N; Địa chỉ:

đường Đ, phường V, quận B, Thành phố H.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

- Ông Bùi Văn T; Sinh năm: 1957; Địa chỉ: đường N, phường T, quận H,

thành phố H

- Ông Phạm Văn S; Sinh năm: 1983; Địa chỉ: đường N, Phường A, quận G,

Thành phố H

Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 12/5/2020)

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần Xây dựng Xuất nhập khẩu V; Địa chỉ: Đường

A, phường P, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Bà Bùi Thị Thu Thủy H

Địa chỉ: đường X, phường V, thành phố N, tỉnh K

(Ông T có mặt; ông S và bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nhận ngày 26/3/2020, bản tự khai và trong quá trình

giải quyết vụ án, ông Bùi Văn T và ông Phạm Văn S là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 30/5/2019, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Công trình N (Sau đây gọi

tắt là Công ty N) và Công ty Cổ phần Xây dựng Xuất nhập khẩu V (Sau đây gọi tắt là Công ty V) ký Hợp đồng thiết kế cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình (Sau đây gọi tắt là Hợp đồng A) để thực hiện dự án điện mặt trời áp mái trang trại N, địa điểm: xã N, thị xã N, tỉnh K với tổng giá trị hợp đồng 4.470.943.400 đồng (đã bao gồm Thuế VAT 10%).

Thực hiện hợp đồng, Công ty N đã thực hiện các công việc theo thỏa thuận

như: giao bản thiết kế, vận chuyển một phần thiết bị và nguyên vật liệu, cử kỹ thuật ra công trình …. với tổng giá trị 2.717.431.200 VNĐ (đã bao gồm thuế giá trị gia tăng 10%). Công ty V đã thực hiện nghĩa vụ tạm ứng, thanh toán một phần với tổng số tiền là 1.000.000.000 đồng.

Ngày 19/6/2019, Công ty V thông báo Công ty N dừng thi công Dự án

theo chỉ đạo của UBND thị xã N, tỉnh K, thời gian thi công sẽ thông báo sau. Ngày 25/6/2019, Công ty V thông báo thời gian thi công dự kiến lại vào ngày 15/7/2019 và đồng ý cho Công ty N rút khởi dự án cho đến khi nhận được thông báo mới. Công ty V sẽ thông báo cho Công ty N 05 ngày trước khi Dự án thi công lại.

Tuy nhiên, cho đến ngày 16/7/2019, Công ty N vẫn không nhận được

thông báo tiếp tục dự án từ Công ty V. Công ty N đã có văn bản gửi Công ty V về việc chấm dứt hợp đồng thi công và yêu cầu Công ty V thanh toán toàn bộ vật tư và khối lượng công việc đã thực hiện theo Hợp đồng. Tuy nhiên, Công ty V chỉ thanh toán thêm 350.000.000 đồng và không tiếp tục thanh toán dù Công ty N đã nhắc nhở, liên hệ nhiều lần.

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc Công ty V thanh toán tổng số

tiền là 1.368.825.696 đồng, gồm: tiền thiết bị, nguyên vật liệu, chi phí công việc đã thực hiện còn nợ 1.267.431.200 đồng và tiền phạt vi phạm hợp đồng 101.394.496 đồng (tương đương 12% phần giá trị hợp đồng bị vi phạm).

Bị đơn Công ty Cổ phần Xây dựng Xuất nhập khẩu V: Dù đã được Tòa án

tống đạt, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không cử người tham gia tố tụng và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Đại diện nguyên đơn cung cấp bổ sung các phiếu xuất kho của Công ty N

và xác định lại số tiền yêu cầu Công ty V phải thanh toán là 1.165.561.288

đồng, trong đó: tiền thiết bị, nguyên vật liệu và chi phí công việc còn nợ là

1.096.370.692 đồng (đã bao gồm thuế VAT) và tiền phạt vi phạm hợp đồng là

69.190.596 đồng (tương ứng với mức phạt 8% phần nghĩa vụ của hợp đồng bị

vi phạm). Không yêu cầu tính lãi chậm trả. Yêu cầu thanh toán làm một lần

ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí

Minh phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp

hành đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trừ việc Tòa án vi

phạm thời hạn đưa vụ án ra xét xử. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của

Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu

khởi kiện của nguyên đơn. Ghi nhận việc nguyên đơn không yêu cầu tính lãi

chậm trả. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện

Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Công ty N yêu cầu Công ty V thanh toán số tiền còn nợ của Hợp đồng thiết

kế, cung cấp nguyên vật liệu và thi công nên đây là vụ án tranh chấp Hợp đồng

thi công quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Công ty V có trụ sở tại Quận 9 (nay là Thành phố Thủ Đức), Thành phố

Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố

Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và

điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

* Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Công ty V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần

thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ

khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa

án tiến hành xét xử vắng mặt Công ty V.

* Về nội dung vụ án:

Đối với yêu cầu buộc Công ty V trả số tiền còn nợ, Hội đồng xét xử

nhận thấy:

Căn cứ Hợp đồng thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây

dựng công trình A ngày 30/5/2019; Các Vận đơn gửi hàng; Danh sách bàn giao vật tư; Mẫu xác nhận tài liệu thiết kế …. và lời khai của đại diện nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: quan hệ thiết kế, cung cấp thiết bị và thi công xây dựng giữa Công ty N và Công ty V là có thật và hợp pháp.

Căn cứ Văn bản ngày 27/9/2019 của Sở Công Thương tỉnh Khánh Hòa về

việc báo cáo kết quả kiểm tra các dự án điện mặt trời dưới 01 MW trên địa bàn thị xã Ninh Hòa; Các văn bản của Công ty N gửi Công ty V về việc chấm dứt Hợp đồng và yêu cầu thanh toán và lời khai của đại diện nguyên đơn thì có cơ sở để xác định dự án của Công ty V đang thực hiện, đã có một số cây trồng nông nghiệp, có xây dựng trạm biến áp và đường dây 22KV nhưng đang tạm dừng thi công theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thị xã N, tỉnh K.

Công ty V đã thông báo cho Công ty N tạm dừng thi công, rút khỏi công

trình dự án và dự kiến đến ngày 15/7/2019 sẽ tiếp tục thi công lại. Công ty V sẽ thông báo cho Công ty N 05 ngày trước khi Dự án thi công lại. Tuy nhiên, đến ngày 16/7/2019, Công ty N vẫn không nhận được thông báo tiếp tục thực hiện công trình từ Công ty V. Công ty N đã gửi văn bản thông báo về việc chấm dứt việc thực hiện Hợp đồng A và đề nghị Công ty V thanh toán tiền thiết bị, nguyên vật liệu và các chi phí công việc mà Công ty N đã thực hiện nhưng Công ty V không có văn bản trả lời và cũng chỉ thanh toán thêm được một phần. Sau đó thì không thanh toán tiếp dù Công ty N đã nhắc nhở nhiều lần.

Tính đến ngày 16/7/2019, Công ty N đã thực hiện các công việc gồm: giao

bản thiết kế; cử kỹ thuật ra công trình; thi công một phần công trình; vận chuyển và bàn giao một phần thiết bị, nguyên vật liệu sau đây cho Công ty V:

STT

Tên

ĐVT

Số lượng

1

Pin Mono 330W

Tấm

306

2

MC4

Chiếc

80

3

Inverter Huawei 60KW

Chiếc

5

4

DC 1*4mm2

M

2.400

5

AC 3*35mm2

M

260

6

AC 3*185mm2

M

140

7

AC BOX

Chiếc

2

8

Tủ điện

Chiếc

1

9

Khung giá

Trọn bộ

1

10

Inverter TP15KTL

PCS

1

Xét, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn

xác định Công ty N chỉ yêu cầu Công ty V thanh toán tiền của 60 chiếc MC4

thay vì 80 chiếc đã được xác nhận tại Danh sách bàn giao vật tư ngày

25/6/2019. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, có lợi cho bị đơn nên Hội đồng

xét xử ghi nhận.

Căn cứ Bảng báo giá đính kèm Hợp đồng A, Hợp đồng giao thầu Công

trình Khánh Hòa Việt Nam Dự án điện mặt trời áp mai trang trại Ninh Xuân

Vạn Hưng Hợp đồng nhà thầu phụ số 01/2019/VNREE-MIRAI ngày 06/6/2019

giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn Công trình N và Công ty Cổ phần Mirai-

Asia và Biên bản thanh lý hợp đồng thi công công trình ngày 03/10/2019; Bảng

kê công nợ khách hàng của Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại Phát triển

Nhất Tín….thì có cơ sở để xác định tổng giá trị thiết bị, nguyên vật liệu và các

chi phí công việc mà Công ty N đã thực hiện gồm:

STT

Tên

Số lượng

Đơn giá

Thành tiền

(VNĐ)

(VNĐ)

1 Pin Mono 330W

306

1.967.000

601.902.000

2 MC4

60

20.000

1.200.000

3 Inverter Huawei

5

93.000.000

465.000.000

60KW

4 DC 1*4mm2

2.400

11.900

28.560.000

5 AC 3*35mm2

260

283.000

73.580.000

6 AC 3*185mm2

140

1.450.000

203.000.000

7 AC BOX

2

12.000.000

24.000.000

8 Tủ điện

1

103.500.000

103.500.000

9 Khung giá

1

610.000.000

610.000.000

10 Inverter TP15KTL

1

25.900.000

25.900.000

11 Chi phí thiết kế

1

46.750.000

46.750.000

12 Chi phí thi công

88.011.000

13 Chi phí kỹ thuật

10.500.000

14 Chi phí vận chuyển

32.979.448

Tổng cộng

2.314.882.448

Căn cứ Sổ hạch toán chi tiết tài khoản của Công ty N tại Ngân hàng B lập

ngày 21/02/2020; Văn bản của Ngân hàng V và lời khai của đại diện nguyên

đơn thì đủ cơ sở để xác định: Công ty V chỉ thanh toán cho Công ty N tổng cộng 1.450.000.000 đồng thông qua chuyển khoản vào các ngày 30/5/2019 (100.000.000 đồng); ngày 04/6/2019 (1.000.000.000 đồng) và ngày 19/7/2019 (350.000.000 đồng). Do đó, Công ty V đã vi phạm tiến độ thanh toán như đã thỏa thuận tại Điều 11 Hợp đồng A.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập Công ty V

nhưng Công ty V không đến Tòa để làm việc cũng như không gửi văn bản ý kiến và các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án nên Tòa án không có cơ sở để xem xét ý kiến của Công ty V.

Từ những phân tích trên, Căn cứ Điều 50 và Điều 55 Luật Thương mại,

Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Công ty N, buộc Công ty V có trách nhiệm thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho Công ty N tổng số tiền là: Tổng giá trị của thiết bị, nguyện vật liệu và các chi phí liên quan đến các công việc mà Công ty N đã thực hiện + Thuế VAT 10% - Tổng số tiền Công ty V đã thanh toán = 2.314.882.448 đồng + (2.314.882.448 đồng x 10%) - 1.450.000.000 đồng = 1.096.370.692 đồng

Đối với yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Điều 300 và 301 Luật Thương mại quy định: “Phạt vi phạm là việc bên bị

vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận…”; “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này”.

Khoản 20.2 Điều 20 Hợp đồng A quy định: “Nếu chủ đầu tư vi phạm về

thời han thanh toán Hợp đồng mà không do sự kiện bất khả kháng hoặc không do lỗi của Nhà thầu gây ra, Chủ đầu tư sẽ chịu phạt 1% giá hợp đồng cho một tuần trễ hạn. Tổng giá trị phạt không quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm”.

Điểm 11.3.2 và 11.3.3 khoản 11.2 Điều 11 Hợp đồng quy định: “Đợt 1:

Hai ngày trước khi nhà thầu tiến hành vận chuyển vật tư đến công trường, Bên A thanh toán cho Bên B số tiền tương ứng với 40% giá trị của Hợp đồng…. Đợt 2: sẽ được thực hiện trong vào”; “trừ trường hợp có quy định khác với Khoản 12.2 [Khiếu nại của Chủ Đầu tư], sau khi nhận đủ hồ sơ thanh toán hợp lệ theo quy định của hợp đồng Chủ đầu tư sẽ thanh toán cho Nhà thầu trong vòng 02 ngày làm việc”.

Xét, Công ty V đã vi phạm thời hạn thanh toán theo thỏa thuận trong Hợp

đồng nên việc Công ty N yêu cầu Công ty V phải trả khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng là có cơ sở để chấp nhận.

Xét, tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn xác định Công ty N chỉ yêu cầu

Công ty V chịu phạt vi phạm hợp đồng với mức 8% phần giá trị Hợp đồng bị vi

phạm. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn và phù hợp với quy định của pháp

luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Do đó, Công ty V có trách nhiệm trả cho Công ty N số tiền phạt vi phạm

Hợp đồng là: (2.314.882.448 đồng - 1.450.000.000 đồng) x 8% = 69.190.596

đồng.

Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi trên số tiền còn nợ, đây là sự tự nguyện

của nguyên đơn, có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí:

Căn cứ Điều 6 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí

và lệ phí Tòa án thì Công ty V phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm

là: 36.000.000 đồng + (3% x (1.096.370.692 đồng + 69.190.596 đồng –

800.000.000 đồng)) = 46.966.839 đồng.

Hoàn lại cho Công ty N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 147, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273

của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ và Điều 50, Điều 55, Điều 300, Điều 301 và Điều 306 của Luật

Thương mại;

Căn cứ vào Điều 6 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí

và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Công

trình N đối với Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu V

Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu V có trách nhiệm trả một lần, ngay khi

bản án có hiệu lực pháp luật cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Công trình N

tổng số tiền là 1.165.561.288 (Một tỷ một trăm sáu mươi lăm triệu năm trăm sáu

mươi mốt ngàn hai trăm tám mươi tám) đồng, trong đó: tiền thiết bị, nguyên vật

liệu và chi phí công việc còn nợ là 1.096.370.692 (Một tỷ không trăm chín mươi

sáu triệu ba trăm bảy mươi ngàn sáu trăm chín mươi hai) đồng và tiền phạt vi phạm hợp đồng là 69.190.596 (Sáu mươi chín triệu một trăm chín mươi ngàn năm trăm chín mươi sáu) đồng.

2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho

đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại.

3. Về án phí:

Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm 46.966.839 (Bốn mươi sáu triệu

chín trăm sáu mươi sáu ngàn tám trăm ba mươi chín) đồng, Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu V chịu. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hoàn lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Công trình N 26.532.386 (Hai

mươi sáu triệu năm trăm ba mươi hai ngàn ba trăm tám mươi sáu) đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 9 (nay là Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Công trình N được quyền kháng cáo bản

án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu V vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Cỡ chữ