vanban.org

Bản án 271/2022/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 22/11/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/11/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự,

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 48/2022/HS-ST ngày 31/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 09 (chín) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự,
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 271/2022/HSPT
Ngày 22 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đức

Các Thẩm phán: Ông Trương Công Bình và ông Nguyễn Văn Bằng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Cao Huế - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 266/2022/TLPT-HS, ngày 28/10/2022 đối với bị cáo Hoàng Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2022/HS-ST ngày 31/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

* Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn T, sinh ngày 20/9/2003, tại Đắk Lắk; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn G, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn Q, con bà Nguyễn Thị M; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 19/4/2022 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị X - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp Lý nhà nước tỉnh Đắk Lắk - Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: …. Lý Thường K, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13/02/2022 Hoàng Văn T điều khiển xe mô tô BKS 47AB-33.. (xe dung tích xi-lanh dưới 50 cm3) đi từ thôn G, xã E, huyện K về nhà. Xe mô tô bị hỏng đèn chiếu sáng nên bị cáo sử dụng đèn led độ chế gắn vào chân gương chiếu hậu bên phải của xe. Khi đến đoạn đường liên thôn G, xã E, đoạn đường không có đèn chiều sáng, do không quan sát và không làm chủ tốc đốc nên xe mô tô do bị cáo điều khiển đã tông vào đùi sau phía bên trái của bà Hoàng Thị T đang đi bộ cùng chiều phía trước. Hậu quả làm bà T tử vong, xe mô tô BKS 47AB-33... bị hư hỏng nhẹ.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn ngày 14/02/2022 xác định: Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường nhựa liên thôn thuộc thôn G, xã E, huyện K, hướng Đông đi thôn G, hướng Tây đi thôn G, hướng Bắc tiếp giáp nhà ông Hoàng Văn C, hướng Nam tiếp giáp nhà ông Mã Văn T, mặt đường rải nhựa bằng phẳng rộng 350 cm, có lề đường rộng trung bình 100 cm.

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 14/02/2022 xác định: Xe mô tô biển số 47AB-33...., màu sơn đỏ đen, nhãn hiệu LIFAN, số loại 50R, dung tích 49cc, số khung B6UME1000686, số máy MBL1SE000686; Ốp nhựa đèn chiếu sáng bị hở kích thước (32 x02) cm; Đèn báo tín hiệu bên trái bị trầy xước, mài mòn có chiều hướng từ dưới lên trên, từ trước ra sau, kích thước (07 x 03) cm; Phần đầu tay thắng trước bị trầy xước, mài mòn, dạng hình tròn, có kích thước (1,5 x 1,5) cm; Đầu bọc nhựa tay cầm lái bên trái bị mài mòn không rõ hình dạng, kích thước (25 x 0,5) cm; Ốp nhựa mặt nạ phía trước đầu xe bị mất hoàn toàn; Phần đầu chân đạp số bị cong gập từ trong ra ngoài, từ trước ra sau; Bọc cao su gác để chân bên trái bị gãy mất hoàn toàn; Gác để chân phía sau bên trái bị gãy mất hoàn toàn, dấu vết gãy mới, kích thước (2,5 0,5) cm; Chân đạp phanh sau bị cong gập từ trước ra sau, bị lệch 450 so với vị trí ban đầu; Không có gương chiếu hậu bên phải; gương chiếu hậu bên trái bị bể mất mặt kính hoàn toàn, kích thước (14 x 07)cm; Chân gương chiếu hậu bên phải có gắn thêm 01 đèn led màu đen, kích thước (05 x 05 x 05)cm;

Kỹ thuật an toàn phương tiện: Xe nổ máy khởi động được, đèn xi nhan trái, phải, đèn led hoạt động bình thường; Đèn chiếu sáng của xe bị hư hỏng.

Bản kết luận giám định số 205/KL-PC09 ngày 01/03/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận tử thi bà Hoàng Thị T: Đỉnh phải có dấu vết rách da hình chữ (V) dài 4,5cm hở rộng 01 cm. Gò má phải có xây xát da kích thước (02 x 02)cm. Đồng tử 2 mắt giãn 0.6cm, niêm mạc và môi nhợt nhạt; bờ vai phải có vết xây xát da, kích thước (2,7 x 1,5)cm. Vết lóc da cơ từ vùng chậu trái xuống 1/3 giữa đùi trái kích thước (35 x 20)cm, chiều hướng từ trên xuống dưới, xung quanh có bầm tụ máu. 1/3 giữa cẳng chân trái có vết rách da cơ nằm chéo (phải trên, trái dưới) kích thước (15 x 8,5)cm lộ xương. Mặt trước trong cẳng chân phải có vết bầm tụ máu, kích thước (23 x 10)cm, đầu các ngón tay nhợt nhạt. Gãy 1/3 giữa xương chày và xương mác bên trái.

Nguyên nhân tử vong là do đa chấn thương (đầu, mặt, tứ chi) dẫn đến sốc chấn thương không hồi phục.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2022/HS-ST ngày 31/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt Hoàng Văn T 09 tháng tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/9/2022 bị cáo Hoàng Văn T kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Hoàng Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt 09 tháng tù mà mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt tại phiên tòa, gửi bản luận cứ để bảo chữa cho bị cáo và cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại gia đình bị hại và được gia đình bị hại bãi nại; bị cáo là người dân tốc thiểu số, sinh sống tại vùng sâu, vùng sa, nhận thức pháp luật có phần hạn chế; bị cáo thuộc hộ cận nghèo, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo hưởng án treo.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì và chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo Hoàng Văn T tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập đánh giá có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13/02/2022, Hoàng Văn T điều khiển xe mô tô lưu thông trên đoạn đường thôn G, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, do không chú ý quan sát phía trước, không giảm tốc độ nên đã va chạm với bà Hoàng Thị T đang đi bộ cùng chiều, hậu quả làm bà T tử vong. Do đó, bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Hoàng Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp lý và đảm bảo đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo của bị cáo đề nghị cho hưởng án treo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường vào buổi tối nhưng đèn chiếu sáng xe không đảm bảo theo quy định, khi đi đến đoạn đường không có đèn chiếu sáng, bị cáo không quan sát, không làm chủ tốc độ nên đã để xe mô tô do bị cáo điều khiển va chạm với bà T đang đi bộ trên đường, hậu quả bà T chết; bị cáo là người hoàn toàn có lỗi khi để xảy ra tai nạn giao thông. Mức hình phạt 09 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là thỏa đáng tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Sau khi kháng cáo, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, không có căn cứ chấp kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên mức hình phạt tù có thời hạn mà án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự,

- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 48/2022/HS-ST ngày 31/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự,

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 09 (chín) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

[2]. Án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ