- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số:271/2022/HS-ST Ngày: 22-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Thu Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thiện và ông Lê Văn Công
- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 282/2022/HSST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 295/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Thanh T (tên gọi khác: T Lúa), sinh năm: 1977 tại Bình Dƣơng; nơi cƣ trú: 131B, ấp A, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S (chết) và bà Nguyễn Thị V (chết), vợ Nguyễn Thị Mai Thy (đã ly hôn), bị cáo có 01 ngƣời con sinh năm 2006;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 07/4/2021, Ủy ban nhân dân xã A, thành phố Thuận An Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn trong thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đến ngày 07/7/2021 chấp hành xong.
Nhân thân: Ngày 14/9/2012, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng tuyên xử 09 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành án tại trại giam An Phƣớc – Bộ công an đến ngày 09/02/2018 chấp hành xong.
Ngày 16/8/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dƣơng đến ngày 30/12/2020 chấp hành xong.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 17/5/2022 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Minh H, sinh năm 1986; địa chỉ: Số 5/2 khu phố T, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt;
2. Bà Từ Thị Mỹ D, sinh năm 1993; địa chỉ: Số 13/9 khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt;
3. Ông Nguyễn Đình L, sinh năm 1996; địa chỉ: Xóm 1, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt;
4. Bà Huỳnh Thị Oanh K, sinh năm 1989; địa chỉ: phƣờng V, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
- Ngƣời làm chứng: Lê Tuấn K, sinh năm 2000, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 03 giờ 00 ngày 17/5/2022, Công an phƣờng Hƣng Định, thành phố Thuận An tiến hành tuần tra trên địa bàn. Khi L lƣợng công an đến trƣớc địa chỉ: 181 đƣờng Cầu Tàu, khu phố Hƣng Thọ, phƣờng Hƣng Định, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì phát hiện Trần Thanh T đang ngồi cạnh xe mô tô biển số 61U2 – 1900 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra T khai nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy và còn cất giấu ma túy trong ngƣời. Lúc này, T tự lấy từ trong túi quần phía sau bên phải T đang mặc ra 01 ví da màu nâu, bên trong có 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho lực lƣợng công an, T khai nhận gói nylon trên là ma tuý đá của T cất giấu nhằm mục đích để sử dụng. Vì vậy, lực lƣợng công an tiến hành lập biên bản tạm giữ vật chứng, đƣa T về trụ sở làm việc.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) ví da màu nâu; 01 (một) túi nylon miệng kéo dính có chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) xe mô tô biển số 61U2-1900.
Tại bản kết luận giám định số 231/KL-KTHS (MT) ngày 23/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lƣợng: 0,8363 gam.
Quá trình điều tra, Trần Thanh T khai nhận: T là đối tƣợng nghiện ma túy nên ngày 13/5/2022 T có mua số ma túy trên của một ngƣời đàn ông tên “Út” (khoảng 40 tuổi, nói giọng Miền Nam, dáng ngƣời ốm) tại khu vực phƣờng Bình Nhâm, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng với giá 1.000.000đồng để sử dụng. Đến khoảng 03 giờ 00 ngày 17/5/2022, tại trƣớc số nhà: 181 đƣờng Cầu Tàu, khu phố Hƣng Thọ, phƣờng Hƣng Định, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, khi T đang ngồi trên xe mô tô thì bị L lƣợng tuần tra kiểm tra và phát hiện số ma túy T còn cất giấu ma túy trong ngƣời.
Tại bản Cáo trạng số 270/CT-VKSTA ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Trần Thanh T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đƣợc niêm phong ký hiệu số 231/MT-PC09 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, bên ngoài có chữ ký ngƣời chứng kiến Lê Tuấn K, ngƣời có đồ vật tài liệu bị niêm phong Trần Thanh T, cán bộ niêm phong Huỳnh Quang Ngọc, chữ ký của Nguyễn Minh Phúc – phó trƣởng công an phƣờng và hình dấu đỏ của Công an phƣờng Hƣng Định, thành phố Thuận An, 01 (một) ví da màu nâu đã thu giữ của Trần Thanh T.
Đối với chiếc xe mô tô kiểu dáng Exciter biển số 61U2-1900 thu giữ của bị cáo T trong vụ án, T khai nhận mƣợn của bạn là Lê Minh H, sinh năm 1986 có địa chỉ: khu phố B, phƣờng A, thành phố T. Quá trình làm việc đƣợc biết chiếc xe này thuộc sở hữu của vợ ông H là Từ Thị Mỹ D, sinh năm 1993. Quá trình điều tra, có căn cứ xác định chiếc xe mô tô kiểu dáng Exciter biển số 61U2-1900 thuộc sở hữu hợp pháp của bà D. Bà D giao xe cho ông H sử dụng sau đó ông H cho T mƣợn, việc T dùng xe vào việc phạm tội thì ông H, bà D không biết. Do đó, Cơ quan CSĐT công an thành phố Thuận An đã trả lại xe cho bà D là có căn cứ.
Đối với ngƣời thanh niên tên “Út” có hành vi bán ma túy cho Trần Thanh T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành xác minh nhƣng chƣa có kết quả. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục điều tra, xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội D Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại biên bản bắt ngƣời trong trƣờng hợp khẩn cấp ngày 17/5/2022 (BL 16), bản tƣờng trình ngày 17/5/2022 (BL 67) và các biên bản ghi lời khai ngày 17/5/2022, ngày 14/5/2022 và biên bản hỏi cung ngày 31/6/2022 (thể hiện từ BL số 68 đến BL 73). Bị cáo Trần Thanh T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội D Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của ngƣời chứng kiến. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 03 giờ 00 ngày 17/5/2022, tại trƣớc số nhà: 181 đƣờng Cầu Tàu, khu phố Hƣng Thọ, phƣờng Hƣng Định, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng bị cáo Trần Thanh T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,8343 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.
Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, ngƣời nào sử dụng ma túy sẽ bị ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng. Ngoài ra còn gây tha hóa biến chất, tạo nên gánh nặng cho xã hội, đồng thời việc sử dụng ma túy là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, hậu quả làm mất trật tự, trị an tại địa T. Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi vi phạm pháp luật Hình sự, xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nƣớc. Bị cáo nhận thức đƣợc tất cả những hành vi trên nhƣng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã cất giấu ma túy để sử dụng, bất chấp hậu quả xảy ra. Bản thân bị cáo đã từng bị kết án liên quan về tội này nhƣng không lấy đó làm bài học để sửa chữa sai lầm để làm ngƣời có ích cho xã hội, nay lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy phải xét xử mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đƣợc niêm phong ký hiệu số 231/MT-PC09 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, bên ngoài có chữ ký ngƣời chứng kiến Lê Tuấn K, ngƣời có đồ vật tài liệu bị niêm phong Trần Thanh T, cán bộ niêm phong Huỳnh Quang Ngọc, chữ ký của Nguyễn Minh Phúc – phó trƣởng công an phƣờng và hình dấu đỏ của Công an phƣờng Hƣng Định, thành phố Thuận An, 01 (một) ví da màu nâu đã thu giữ của Trần Thanh T.
Đối với ngƣời thanh niên tên “Út” có hành vi bán ma túy cho Trần Thanh T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành xác minh nhƣng chƣa có kết quả. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục điều tra, xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 5 năm 2022.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đƣợc niêm phong ký hiệu số 231/MT-PC09 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, bên ngoài có chữ ký ngƣời chứng kiến Lê Tuấn K, ngƣời có đồ vật tài liệu bị niêm phong Trần Thanh T, cán bộ niêm phong Huỳnh Quang Ngọc, chữ ký của Nguyễn Minh Phúc – phó trƣởng công an phƣờng và hình dấu đỏ của Công an phƣờng Hƣng Định, thành phố Thuận An, 01 (một) ví da màu nâu đã thu giữ của Trần Thanh T.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08 tháng 9 năm 2022 giữa Chi cục Thi hành dân sự thành phố Thuận An và Công an thành phố Thuận An).
3. Về án phí:
Buộc bị cáo Trần Thanh T phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án, hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Công an thành phố Thuận An; - Chánh án; - Bị cáo; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu:HS,THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thu Thảo |