vanban.org

Bản án 271/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 06/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Lạc Hồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hưng - Lạm dụng - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 271/2022/HS-ST
Ngày: 06/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP.HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Thùy Dương Ngọc Anh Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đình Hùng

2. Bà Bùi Thị Hảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Lệ Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huê, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 244/2022/TLST-HS ngày 13/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 258/2022/QĐXXST-HS ngày 13/10/2022 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN H, sinh năm: 1981; HKTT: xxx, Nguyễn Trãi, Hà Đông, Hà Nội; chỗ ở: Thôn N, xã H, Văn Lâm, Hưng Yên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: tự do; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị N; theo danh chỉ bản số 477 ngày 30/6/2022 lập tại Công an quận Long Biên thì bị cáo không có tiền án, tiền sự; Bị cáo tại ngoại - Có mặt.

Bị hại: 1. Anh Lê Trung H2, sinh năm 1994; địa chỉ: phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Hà Nội (Vắng mặt)

2. Chị Phạm Thị Ph, sinh năm 1994; địa chỉ: phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Hà Nội (Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Nguyên Ng, sinh năm 1982; địa chỉ: phố Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, Hà Nội (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H hành nghề lái xe đường dài, không phải giáo viên dạy lái xe. Do muốn hưởng tiền chênh lệch từ việc nộp hồ sơ cho người có nhu cầu học lái xe, nên khoảng cuối năm 2020 H thuê một đối tượng không rõ lai lịch thiết kế trang facebook “Trung tâm đào tạo lái xe bằng B1, B2, Ngọc Hà”. Các bài đăng trên trang facebook có niêm yết nội dung “Nhận đào tạo lái xe ô tô trên toàn địa bàn Hà Nội các hạng B1, B2, C bổ túc tay lái ngoài giờ” và niêm yết các số điện thoại 0984979695, 0945617999 nhằm mục đích thu hút người có nhu cầu học và thoả thuận về giá cả, thu tiền học phí của học viên. Sau đó, anh Lê Trung H2 và chị Phạm Thị Ph đã liên hệ để đăng ký học lái xe. H đã chủ động tìm đến nhà anh H2, chị Ph và thoả thuận sẽ đào tạo và nộp hồ sơ thi bằng lái xe cho vợ chồng anh H2 với tổng chi phí là 15.500.000 đồng. Sau khi chị Ph chuyển tiền cho H, H đã thuê anh Nguyễn Nguyên Ng, là giáo viên dạy lái xe của Trường Cao đẳng Ngọc Hà, để dạy lái xe cho vợ chồng anh H2 và thoả thuận sẽ trả trực tiếp tiền dạy lái xe cho anh Ng với giá từ 150.000 – 200.000 đồng/1 giờ dạy. H nhờ Ng viết 01 phiếu thu tiền 15.500.000 đồng cho chị Ph (H khai đã mua phiếu thu này trên mạng xã hội của một người không rõ lai lịch). Ng đã đào tạo lái xe cho vợ chồng anh H2 07 buổi học từ ngày 05/12/2020 đến ngày 13/03/2021 sau đó dừng đào tạo và hẹn vợ chồng anh H2 khi nào gần đến ngày thi thì sẽ tiếp tục đào tạo nốt. Sau khi vợ chồng anh H2 nộp tiền cho H, H không nộp hồ sơ ngay mà muốn gom thêm hồ sơ rồi nộp một thể. Trong khi H chưa nộp hồ sơ và tiền vào Trung tâm đào tạo lái xe thì dịch Covid 19 xảy ra. Lúc này H gặp khó khăn về kinh tế do không có việc làm nên đã nảy ý định chiếm đoạt số tiền nói trên để chi tiêu cá nhân và không nộp hồ sơ dạy lái xe của vợ chồng anh H2 vào Trung tâm sát hạch lái xe Đình Xuyên như đã thoả thuận.

Do thấy thời gian đã lâu mà không được thi sát hạch lấy bằng lái xe như đã thoả thuận nên đến tháng 7/2021 anh H2 có gọi điện hỏi về lịch thi nhưng H cố tình lảng tránh, không nghe máy của anh H2. Khi anh H2 liên lạc được thì H nói dối là đã nộp hồ sơ nhưng do tình hình dịch Covid và trung tâm chưa sắp xếp được lịch thi và tắt điện thoại không cho anh H2 liên lạc với H nữa. Khi anh H2 liên hệ với Trung tâm dạy nghề lái xe Đình Xuyên thì được trung tâm báo rằng anh H2, chị Ph không có hồ sơ và phiếu thu tiền do đối tượng H cung cấp là giả. Nhận thấy H có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản của mình nên anh H2 đã gửi đơn tố giác đến Công an quận Long Biên.

Tài sản thu hồi được gồm có:

- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen số seri F17W629VJCLY imei: 352980099531417 của Nguyễn Văn H;

- 01 tờ phiếu thu có đóng dấu vông trung tâm dạy nghề đào tạo và sát hạch lái xe thu số tiền 15.500.000 đồng ngày 05/12/2020 anh Lê Trung H2 giao nộp.

Tiến hành xác minh thể hiện:

- Từ thời điểm 29/11/2020 đến thời điểm xác minh, Trung tâm dạy nghề lái xe Đình Xuyên không hề tiếp nhận hồ sơ dạy lái xe hoặc thi lấy bằng của anh Lê Trung H2 và chị Phạm Thị Ph.

- Nguyễn Nguyên Ng là giáo viên dạy thực hành lái xe (giáo viên thỉnh giảng) tại Trường trung cấp Ngọc Hà.

Về dân sự:

- Quá trình điều tra Nguyễn Văn H đã chủ động bồi thường số tiền 15.500.000 đồng cho anh Lê Trung H2. Anh H2 đã nhận đủ số tiền không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự và đề nghị xử lý bị can theo quy định của pháp luật.

- Đối với khoản học phí đào tạo lái xe cho anh H2 và chị Ph hiện nay H chưa hoàn trả cho anh Ng, anh Ng có quan điểm tự giải quyết và không có yêu cầu, đề nghị gì khác về mặt dân sự.

Bản cáo trạng số 206/CT-VKSLB ngày 05/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Nguyễn Văn H về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo tiếp tục khẳng định việc quảng cáo trên trang Facebook chỉ nhằm thu hút nhiều người quan tâm và nhờ nộp hộ hồ sơ thi bằng lái xe hoặc kèm thêm tay lái, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền của vợ chồng anh H2 sau khi đã nhận được tiền một thời gian và trót tiêu mất nên không có khả năng trả lại.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; đề nghị áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 175, Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 18 đến 24 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có thu nhập ổn định. Áp dụng Điều 47 của BLHS, Điều 106 của BLTTHS trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động đã thu giữ (vì không phải vật chứng của vụ án) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Anh Nguyễn Nguyên Ng giữ lời khai đã trình bày tại cơ quan điều tra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: bị hại là anh Lê Trung H2 và chị Phạm Thị Ph đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, đã được triệu tập hợp lệ và đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị hại.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng tháng 7 năm 2021, bị cáo Nguyễn Văn H thỏa thuận nhận số tiền 15.500.000 đồng của vợ chồng anh Lê Trung H2 và chị Phạm Thị Ph với mục đích là thuê người dạy kèm (bổ túc) tay lái và nộp hồ sơ thi bằng lái xe cho anh H2, chị Ph. Sau khi nhận được tiền, H đã thuê người dạy kèm tay lái cho anh H2, chị Ph 07 buổi. Sau đó do vướng dịch Covid nên bị cáo chưa nộp được hồ sơ thi bằng lái xe cho anh H2, chị Ph và đã trót tiêu hết số tiền trên, nhưng không trao đổi lại mà nói dối quanh, sau đó tắt điện thoại và trốn tránh không trả lại số tiền nêu trên cho anh H2, chị Ph.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được Bộ luật Hình sự bảo vệ, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục hậu quả; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo như đã viện dẫn, thì phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt với mức án như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Xét nhân thân bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã viện dẫn và hiện đang tại ngoại, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại là anh Lê Trung H2 và chị Phạm Thị Ph đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Nguyên Ng có ý kiến được tự thỏa thuận với bị cáo về số tiền công dạy lái xe. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa anh Ng và bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp giữa anh Ng và bị cáo không thỏa thuận được có tranh chấp về số tiền này, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

Xử lý vật chứng:

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen số seri F17W629VJCLY số Imei 352980099531417.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tạm giữ lại chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án: Luật Thi hành án Dân sự hiện hành (các Điều 47 và 128) quy định cụ thể về thu án phí, tiền phạt và các khoản phải thu khác đối với người phải thi hành án, thứ tự ưu tiên khi trả tài sản thi hành án. Do vậy, không cần thiết phải tuyên trong bản án về việc tạm giữ tài sản của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Đối với vật chứng là 01 tờ phiếu thu có đóng dấu vuông “Trung tâm dạy nghề đào tạo và sát hạch lái xe” do anh Lê Trung H2 giao nộp là tài liệu, chứng cứ đã được đưa vào hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 175, Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã Lạc Hồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen số seri F17W629VJCLY số Imei 352980099531417, hiện lưu giữ tại Kho vật chứng Cơ quan Thi hành án dân sự quận Long Biên, theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/9/2022

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, anh Nguyễn Nguyên Ng có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ