vanban.org

Bản án 271/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 19/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hoài D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 271/2019/HS-ST.
Ngày: 19/6/2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nhạn.

2. Bà Thiều Thị Phi Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Toàn - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 19 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 233/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 253/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Hoài D, sinh năm 1996. Nơi đăng ký HKTT: 190/14, khu phố 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đ. Chỗ ở hiện nay: Như trên. Nghề nghiệp: không. Trình độ học vấn: 4/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Cao đài. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Văn P, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị Bạch L, sinh năm 1962. Gia đình bị cáo có 02 anh em. Bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ ngày 12/01/2019, đến ngày 18/01/2019 được Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa hủy bỏ biện pháp tạm giữ và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hoài D là người nghiện ma túy. Khoảng 17 giờ ngày 11/01/2019, Dũ đi bộ đến khu vực nhà thờ “Tân Mai” thuộc phường T, thành phố B mua 02 (hai) gói ma túy tổng hợp của một người tên Phó (không rõ họ, địa chỉ) với giá 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) rồi cất vào túi quần bên phải để đem về nhà sử dụng. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 12/01/2019, khi D đang ở nhà tại số 190/14, khu phố 7, phường T, thành phố B thì Công an phường T kiểm tra và phát hiện D cất giấu số ma túy trên trong túi quần nên đã lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang đối với D và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa điều tra, xử lý.

* Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:

- 02 (hai) gói nylon chứa tinh thể màu trắng đã được niêm phong có chữ ký của Lê Hoài D.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số seri 1: 357331084701489, số seri 2: 357331084701497.

* Tại kết luận giám định số: 111/PC09-GĐMT ngày 16/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 0,5876 gam, loại: Methamphetamine”.

Tại cáo trạng số: 234/CT/VKSBH ngày 08 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố Lê Hoài D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điều khoản và tội danh nêu trên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo với mức án từ 14 (mười bốn) đến 18 (mười tám) tháng tù.

Bị cáo Lê Hoài D không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Lê Hoài D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về nội dung vụ án, tội danh và áp dụng điều luật:

Xét thấy, tại phiên tòa bị cáo Lê Hoài D đã khai nhận: Vào ngày 12/01/2019, Lê Hoài D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,5876 gam, loại: Methamphetamine thì bị Công an phường T bắt quả tang và lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Lê Hoài D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân thành phố Biên Hòa đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự; gây tác hại cho sức khỏe và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo cũng đủ nhận thức và biết ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn cho người sử dụng và đối với xã hội, bị cáo cũng nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã bất chấp và cố tình vi phạm. Nên cần phải có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét kinh tế bị cáo còn khó khăn, bản thân lại nghiện chất ma tuý, không có điều kiện để thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Ma túy loại Methamphetamine là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định, được niêm phong trong gói niêm phong số: 111/PC09-GĐMT ngày 17/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.

Trả lại cho Lê Hoài D 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số seri 1: 357331084701489, số seri 2: 357331084701497 do không liên quan đến việc phạm tội.

Đối với người thanh niên tên Phó (không rõ họ, địa chỉ) bán ma túy cho Lê Hoài D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa, xét thấy tương đối phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYEÁT ÑÒNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Hoài D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Lê Hoài D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 12/01/2019 đến ngày 18/01/2019.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu và tiêu huỷ số lượng ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định, được niêm phong trong gói niêm phong số: 111/PC09-GĐMT ngày 17/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.

Trả lại cho Lê Hoài D 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số seri 1: 357331084701489, số seri 2: 357331084701497 do không liên quan đến việc phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/5/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Hoài D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo Lê Hoài D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ