vanban.org

Bản án 271/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/08/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương tín (Sacombank).

Buộc ông Hồ Văn T thanh toán nợ theo Giấy Đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/10/2014 cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương tín (Sacombank), số tiền 47.499.466 (Bốn mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn bốn trăm sáu mươi sáu) đồng; trong đó: nợ gốc 34.174.693 (Ba mươi bốn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Sacombank-Hồ V Thiện"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương tín (Sacombank).
  • Căn cứ chính? Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN Về việc ban hành Quy chế cho…; Luật Phí và lệ phí; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 271/2018/DS-ST
Ngày: 16/8/2018
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh

2. Bà Nguyễn Thị Bông Hường

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Trung Tiến, Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hương– Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2018/TLST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2018/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 7 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2018/QĐST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương tín (Sacombank).

Trụ sở: 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch Diễm – Tổng Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1983

Giấy ủy quyền số 1666/2017/UQ-TTT ngày 29/03/2017

Có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Ông Hồ Văn T, sinh năm 1960

Địa chỉ: 113 đường D, phường T, quận T, Thành phố H.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn do bà Nguyễn Thị Kim O là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương tín trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương tín (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) có ký với ông Hồ Văn T Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/10/2014, ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức 30.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Thực hiện hợp đồng, ông T đã giao dịch nhiều lần với tổng số tiền 230.856.973 đồng, ông T đã thanh toán 214.260.162 đồng. Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 06/7/2017 ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 22/11/2017, ông T còn nợ số tiền gốc 34.174.693 đồng, lãi quá hạn 4.583.460 đồng, tổng cộng 38.758.153 đồng. Qua nhiều lần làm việc và nhắc nhở nhưng ông T không có thiện chí thanh toán như thỏa thuận.

Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T phải thanh toán số nợ còn lại theo Giấy Đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng trên tính đến ngày 16/8/2018 thì ông T còn nợ số tiền tổng cộng là 47.499.466 (Bốn mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn bốn trăm sáu mươi sáu) đồng; trong đó nợ gốc 34.174.693 (Ba mươi bốn triệu một trăm bảy mươi bốn ngàn sáu trăm chín mươi ba) đồng; lãi quá hạn 13.324.773 Mười ba triệu ba trăm hai mươi bốn ngàn bảy trăm bảy mươi ba) đồng; tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ gốc và thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn ông Hồ Văn T trình bày: Ông T đồng ý thanh toán các khoản nợ của ngân hàng nhưng do gia đình ông bị phá sản, ông không còn khả năng chi trả, tài sản duy nhất của gia đình là căn nhà số 113 đường D, phường T, quận T, Thành phố H hiện đang thế chấp trong hợp đồng tín dụng khác và đang trong quá trình giải quyết. Ông đồng ý trả nợ khi ngân hàng xử lý xong tài sản bảo đảm nêu trên.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn do bà Nguyễn Thị Kim O đại diện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc ông T phải thanh toán số nợ còn lại theo Giấy Đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/10/2014. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 16/8/2018 thì ông T còn nợ tổng cộng là 47.499.466 (Bốn mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn bốn trăm sáu mươi sáu) đồng; trong đó nợ gốc 34.174.693 (Ba mươi bốn triệu một trăm bảy mươi bốn ngàn sáu trăm chín mươi ba) đồng; lãi quá hạn 13.324.773 (Mười ba triệu ba trăm hai mươi bốn ngàn bảy trăm bảy mươi ba) đồng.

Bị đơn ông Hồ Văn T đồng ý thanh toán các khoản nợ của ngân hàng khi ngân hàng xử lý xong tài sản bảo đảm nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T thành phố H phát biểu quan điểm:

+ Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án theo quy định tại các Điều 21, 26, 35, 39, 48, 51, 63, 68, 70, 71, 72, 171, 173, 177, 220, 228, 234, 239, 248, 260 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Việc giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử: Nhận thấy tại Giấy Đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/10/2014 thể hiện ông T ký với Ngân hàng là tự nguyện, không trái với quy định pháp luật, quá trình thực hiện hợp đồng ông T đã không thanh toán đầy đủ số tiền gốc là lãi theo như thỏa thuận, vi phạm hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T thanh toán số tiền tổng cộng là 47.499.466 (Bốn mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn bốn trăm sáu mươi sáu) đồng; trong đó nợ gốc 34.174.693 (Ba mươi bốn triệu một trăm bảy mươi bốn ngàn sáu trăm chín mươi ba) đồng; lãi quá hạn 13.324.773 (Mười ba triệu ba trăm hai mươi bốn ngàn bảy trăm bảy mươi ba) đồng là có cơ sở, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét Đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng yêu cầu bị đơn ông Hồ Văn T phải có trách nhiệm thanh toán số tiền tổng cộng là 47.499.466 (Bốn mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn bốn trăm sáu mươi sáu) đồng theo Giấy Đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/10/2014, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Căn cứ Phiếu xác minh ngày 20/3/2018, cơ quan công an phường T, quận T, thành phố H xác minh: Đương sự Hồ Văn T có hộ khẩu thường trú tại 113 đường D, phường T, quận T, Thành phố H sinh sống từ năm 1995 cho đến nay, hiện tại vẫn cư ngụ tại địa chỉ trên. Ngân hàng khởi kiện ông T có nơi cư trú tại quận T, Thành phố H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Toà án nhân dân quận T theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự:

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T phải thanh toán số nợ còn lại theo Giấy Đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng trên tính đến ngày 16/8/2018 thì ông T còn nợ số tiền tổng cộng là 47.499.466 (Bốn mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn bốn trăm sáu mươi sáu) đồng; trong đó nợ gốc 34.174.693 (Ba mươi bốn triệu một trăm bảy mươi bốn ngàn sáu trăm chín mươi ba) đồng; lãi quá hạn 13.324.773 (Mười ba triệu ba trăm hai mươi bốn ngàn bảy trăm bảy mươi ba) đồng và thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Xét, Giấy Đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/10/2014 ông T ký với Ngân hàng thì sự thỏa thuận của các bên đương sự là tự nguyện, hình thức và nội dung không trái với quy định của pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385, Điều 386 và Điều 388 Bộ luật dân sự.

Quá trình thực hiện hợp đồng thẻ tín dụng trên, ông T là bên vi phạm hợp đồng không trả nợ gốc và nợ lãi đúng hạn theo thỏa thuận nên Ngân hàng yêu cầu ông T thanh toán số tiền tổng cộng là 47.499.466 (Bốn mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn bốn trăm sáu mươi sáu) đồng; trong đó nợ gốc 34.174.693 (Ba mươi bốn triệu một trăm bảy mươi bốn ngàn sáu trăm chín mươi ba) đồng; lãi quá hạn 13.324.773 (Mười ba triệu ba trăm hai mươi bốn ngàn bảy trăm bảy mươi ba) đồng, thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở, đúng pháp luật phù hợp với quy định tại Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Kể từ ngày 17/8/2018 ông T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Giấy Đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/10/2014, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của ngân hàng cho vay.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của ngân hàng được Tòa án chấp nhận nên ông Hồ Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.374.973 (Hai triệu ba trăm bảy mươi bốn ngàn chín trăm bảy nươi ba) đồng. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí 968.954 (Chín trăm sáu mươi tám ngàn chín trăm năm nươi bốn) đồng cho ngân hàng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 5 Điều 177, Điều 179, khoản 3 Điều 228, Điều 271 Bộ Luật Tố tụng dân sự; Điều 385, Điều 386 và Điều 388 Bộ luật dân sự; Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng; Luật phí và lệ phí năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương tín (Sacombank).

Buộc ông Hồ Văn T thanh toán nợ theo Giấy Đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/10/2014 cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương tín (Sacombank), số tiền 47.499.466 (Bốn mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn bốn trăm sáu mươi sáu) đồng; trong đó: nợ gốc 34.174.693 (Ba mươi bốn triệu một trăm bảy mươi bốn ngàn sáu trăm chín mươi ba) đồng; lãi quá hạn 13.324.773 (Mười ba triệu ba trăm hai mươi bốn ngàn bảy trăm bảy mươi ba) đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Giấy Đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/10/2014, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của ngân hàng cho vay.

2. Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hồ Văn T chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 2.374.973 (Hai triệu ba trăm bảy mươi bốn ngàn chín trăm bảy mươi ba) đồng.

Hoàn trả tiền tạm ứng án phí là 968.954 (Chín trăm sáu mươi tám ngàn chín trăm năm mươi bốn) đồng theo Biên lai thu số 0010493 ngày 11/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương tín (Sacombank).

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương tín (Sacombank), bị đơn ông Hồ Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ