- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Đoàn MBMT - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH -------------- Bản án số :271/2017/HSST Ngày 24/8/2017 |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-----------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
Với hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Vũ
- Các Hội thẩm nhân dân : Ông : Đào Đức Phú - Nghề nghiệp : Cán bộ hưu
Bà : Trần Thu Hà - Nghề nghiệp : Cán bộ
Những người tiến hành tố tụng khác tại phiên tòa :
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Trần Mạnh Hà - KSV
Hôm nay, ngày 24 tháng 8 năm 2017 Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 281/2017/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:
Lê Văn Đ - Sinh 1995
- Nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện H, tỉnh L ; Chỗ ở: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh B; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Nùng; Bố Lê Mạnh H - Sinh 1969; Mẹ Lương Thị T - Sinh 1970; Bị cáo chưa có vợ.
* Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ 02/4/2017 hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên tòa.
*Người liên quan: Đỗ Đình B - sinh 1992 (VM) Trú tại: Thôn L xã V, huyện T, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, bị cáo Đ có hành vi phạm tội như sau:
Hồi 15 giờ 30 phút ngày 02/4/2017 tại quán nước trước cửa nhà số 17 khu 1, phường Vệ An, thành phố Bắc Ninh, tổ công tác của Công an phường Vạn An thành phố Bắc Ninh bắt quả tang Lê Văn Đ có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Đỗ Đình B. Vật chứng thu giữ tại bên trong chiếc giày B đang đi 01 túi nilong mà trắng, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, nghi là ma túy nên đã được niêm phong gửi đi giám định. Thu giữ tại túi quần của Đ đang mặc số tiền 450.000đ là tiền của B vừa mua ma túy của Đ. Ngoài ra còn thu giữ của Đ 01 điện thoại di động không có nhãn màu ghi đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 520/KLGĐ-PC54 ngày 02/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất tinh thể màu trắng trong túi nilong trong phong bì thư có trọng lượng là 0,1855 gam, là ma túy; loại ma túy: Chất Methamphetamine”.
Từ những hành vi trên Lê Văn Đ đã bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh ra cáo trạng số 180/CTr-VKS ngày 14/7/2017 truy tố về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khỏan 1 Điều 194 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình là vào khoảng 14 giờ ngày 02/4/2017 bị cáo đang ở nhà trọ tại thôn Bất Lự, xã Hoàn Sơn thì có B gọi điện cho bị cáo hỏi mua 300.000d ma túy. Bị cáo đồng ý và thỏa thuận với B là phải trả thêm bị cáo 150.000đ tiền công mua ma túy. B đồng ý và hẹn bị cáo mang ma túy đến dốc Cầu Gỗ, phường Vệ An bán cho B. Bị cáo thuê xe ôm ra khu Công nghiệp Tiên Sơn mua của người đàn ông không quen biết 300.000đ tiền ma túy. Khi mua được ma túy, bị cáo lại thuê xe ôm đến chỗ hẹn với B để bán ma túy cho B. Khi đến điểm hẹn gặp B, B đưa cho bị cáo 450.000đ bị cáo cất tiền vào túi quần rồi bị cáo đưa cho B 01 gói nilong màu trắng bên trong có ma túy mà bị cáo vừa mua được, B nhận ma túy rồi cất giấu vào chiếc giày đang đi thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Thu của bị cáo số tiền 450.000đ là tiền vừa bán ma túy cho B và thu giữ 01 chiếc điện thoại cũ, hiện chiếc điện thoại đó không còn giá trị sử dụng. Bị cáo xác định với hành vi như vậy nay bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng.
Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã đánh gía đến tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo và đề cập đến nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo. Đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điêu 33 BLHS; Điều 76 BLTTHS, xử phạt bị cáo từ 24 - 28 tháng tù, đề nghị miễn hình phạt bổ sung, đề nghị xử lý tang vật tịch thu tiêu hủy mẫu vật sau giám định và chiếc điện thoại di động, tịch thu sung quỹ số tiền 450.000đ. Bi cáo Đ không có ý kiến gì với bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Lời khai nhận của bị cáo Đ là hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật thu hồi được, cùng các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ. Chứng tỏ bị cáo Đ đã có hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Đỗ Đình B với trọng lượng là 0,1855 gam; loại ma túy: Chất Methamphetamine. Do vậy tại bản cáo trạng số 180 ngày 14/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố bị cáo về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm đến lĩnh vực trật tự an toàn xã hội. Ma tuý đang đựơc coi là nỗi hiểm hoạ của nhân loại, từ ma tuý sẽ là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo chỉ vì đồng tiền thu lợi bất chính đã đi mua ma túy để bán cho người khác kiếm lời. Hội đồng xét xử xét thấy đối với hành vi này của bị cáo cần phải áp dụng luật hình sự để xử lý với mức hình phạt nghiêm khắc, buộc bị cáo phải cách ly với xã hội một thời gian thì mới có ý nghĩa cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần áp dụng hình phạt bổ sung, phạt bị cáo một khoản tiền nhất định để sung quỹ Nhà nước thì mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật khi xử lý loại tội về ma túy. Nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xét nhân thân của bị cáo, bản thân chưa tiền án, tiền sự, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS.
Về tang vật của vụ án: Trong khi bắt giữ, Công an có thu giữ của B số ma túy đã được niêm phong gửi đi giám định. mẫu vật sau giám định được gửi lạị cần tịch thu tiêu hủy. Thu giữ của bị cáo số tiền 450.000đ, đây là tiền mau bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với chiếc điện thoại di động không nhãn hiệu đã cũ của bị cáo dùng việc giao dịch mua ma túy bị thu giữ, chiếc điện thoại này hiện không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Liên quan trong vụ án còn có Đỗ Đình B là người mua ma túy của bị cáo, lượng ma túy ít chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, hiện tại B không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa xử lý, khi nào có mặt thì sử lý sau là phù hợp.
Theo lời khai của bị cáo là có người đàn ông bán ma túy cho bị cáo ở khu Công nghiệp Tiên Sơn, nhưng bị cáo không biết tên, tuổi và địa chỉ ở đâu nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ để xác định, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần được chấp nhận
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 BLHS: NQ số 326/2016/QH ngày 31/12/2016 của Quốc Hội. Điều 76, 99, 228 BLTTHS:
*Xử phạt: Lê Văn Đ 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/4/2017. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định theo bản kết luận giám định số 520/KLGĐ-PC54 ngày 02/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 450.000đ, tịch thu tiêu hủy 01 điện thoại di động không nhãn hiệu đã cũ.
Bị cáo Đ phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh - VKSND tỉnh,TP - Thi hành án - Bị cáo. - Lưu hồ sơ, VP N¬i nhËn: - TAND tØnh - VKSND tØnh,TP - Thi hµnh ¸n - BÞ c¸o , BÞ h¹i - L u hå s¬, VP | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa T/M. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ |