- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp HĐTD"
- Tòa quyết gì? 1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TÒA ÁN NHÂNDÂN QUẬN GÒVẤP THÀNH PHỐ HỒCHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 270/2023/DS-ST Ngày: 28-7-2023 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Tám
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Châu Thị Lệ
Bà Trần Thị Thanh Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thiên - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 512/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241/2023/QĐST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 240/2023/QĐST-DS ngày 07 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q; địa chỉ trụ sở: Phường B, Quận A, Thành phố H; địa chỉ liên lạc: Phường X, quận T, Thành phố H.
Người đại diện hợp pháp: Ông Vương Hải Linh, sinh năm 1991, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, theo Văn bản ủy quyền số 049986.23 ngày 08/5/2023 và số 27869.20 ngày 04/01/2021; địa chỉ liên lạc: Phường X, quận T, Thành phố H; (có mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Bảo Sơn Đ, sinh năm 1984 và bà Phạm Thị Kim L, sinh năm 1987; cùng địa chỉ: Phường K, quận G, Thành phố H; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nộp ngày 30 tháng 8 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q có ông Vương Hải L là người đại diện hợp pháp trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Q và ông Lê Bảo Sơn Đ, bà Phạm Thị Kim L thỏa thuận ký hợp đồng tín dụng số 9845741.20 ngày 09/10/2020, đính kèm điều khoản và điều kiện cấp tín dụng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, Ngân hàng Thương mại cổ phần Q cho ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L vay số tiền 462.000.000 đồng; mục đích vay để thanh toán tiền mua xe ô tô; thời hạn vay 72 tháng kể từ ngày 13/10/2020 đến ngày 12/10/2026; lãi suất tại thời điểm giải ngân là lãi suất ưu đãi 9,4%/năm và chỉ áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay, hết thời hạn ưu đãi, lãi suất được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm theo quy định của ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4,1%/năm.
Tài sản bảo đảm: Để bảo đảm cho nghĩa vụ vay, ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L thế chấp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu ISUZU, màu trắng, số khung RLE1KR77HLV101915, số máy 121N84, biển số 50H-025.88, số loại QKR77HE4/TN-TKS-4995U2-18, theo hợp đồng thế chấp tài sản số 3653264.20 ngày 09/10/2020 và phụ lục 1.
Thực hiện hợp đồng, ngày 12/10/2020 nguyên đơn đã giải ngân khoản vay theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2568910.20 ngày 12/10/2020 với số tiền 462.000.000 đồng và bị đơn đã nhận đủ tiền vay. Bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và lãi là 161.882.802 đồng, trong đó trả nợ gốc là 106.526.525 đồng, trả nợ lãi là 55.356.277 đồng. Sau đó, bị đơn không thanh toán tiếp số tiền còn nợ cho nguyên đơn nữa. Ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay trên cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông bà vẫn không thanh toán nợ cho ngân hàng. Nguyên đơn đã chuyển khoản vay thành nợ quá hạn từ ngày 06/3/2022.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Q khởi kiện ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L, yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn các khoản nợ tính đến ngày 28/7/2023 theo hợp đồng tín dụng số 9845741.20 ngày 09/10/2020 như sau:
+ Nợ gốc: 355.473.475 đồng
+ Nợ lãi trong hạn: 2.033.044 đồng
+ Nợ lãi quá hạn: 100.185.086 đồng.
Tổng cộng nợ gốc và lãi là: 457.691.605 đồng
Ngoài ra, Ngân hàng Thương mại cổ phần Q yêu cầu ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L phải trả lãi suất phát sinh trên nợ gốc còn nợ kể từ ngày 29/7/2023 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ mà các bên đã ký kết.
Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay sau khi có bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Khoản vay có tài sản bảo đảm nhưng Ngân hàng Thương mại cổ phần Q không yêu cầu giải quyết xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp tài sản số 3653264.20 ngày 09/10/2020.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để triệu tập ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L đến Tòa án để lấy lời khai, tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L không đến, do đó Tòa án không lấy lời khai của ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L cũng như không tiến hành hòa giải giữa nguyên đơn và bị đơn được.
Tại phiên tòa xét xử, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vắng mặt không có lý do.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng người tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L có ký hợp đồng tín dụng vay tiền của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q. Do ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L không trả tiền đúng hạn nên Ngân hàng Thương mại cổ phần Q khởi kiện.
Tòa án đã xác minh địa chỉ cư trú của ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L tại Công an Phường K, quận G, Thành phố H, kết quả xác minh ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L có địa chỉ thường trú hiện đang thực tế cư trú tại địa chỉ Phường K, quận G, Thành phố H. Do ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L cư trú tại quận G, Thành phố H nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa kèm Giấy triệu tập đương sự cho ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L, nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L.
. Về nội dung:
Quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Lê Bảo Sơn Đ, bà Phạm Thị Kim L và Ngân hàng Thương mại cổ phần Q có thỏa thuận vay tài sản thể hiện trong hợp đồng tín dụng số 9845741.20 ngày 09/10/2020. Từ đó có đủ căn cứ để xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa hai bên là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Đối với yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số 9845741.20 ngày 09/10/2020 được ký giữa ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L với Ngân hàng Thương mại cổ phần Q cho thấy việc giao kết hợp đồng tín dụng giữa các bên là có thật, nội dung mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật tại các điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Xét thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 9845741.20 ngày 09/10/2020, đính kèm điều khoản và điều kiện cấp tín dụng, đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2569810.20 ngày 12/10/2020 và bảng kê chi tiết các khoản nợ thể hiện ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L có vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền 462.000.000 đồng. Để bảo đảm cho nghĩa vụ vay, ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L đã thế chấp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q chiếc xe ô tô nhãn hiệu ISUZU, màu trắng, số khung RLE1KR77HLV101915, số máy 121N84, biển số 50H-025.88, số loại QKR77HE4/TN-TKS-4995U2-18, theo hợp đồng thế chấp tài sản số 3653264.20 ngày 09/10/2020 và phụ lục 1. Thực hiện hợp đồng, ngày 12/10/2020 nguyên đơn đã giải ngân khoản vay theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2568910.20 ngày 12/10/2020 với số tiền 462.000.000 đồng và bị đơn đã nhận đủ tiền vay. Bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và lãi là 161.882.802 đồng, trong đó trả nợ gốc là 106.526.525 đồng, trả nợ lãi là 55.356.277 đồng. Sau đó, bị đơn không thanh toán tiếp số tiền còn nợ cho nguyên đơn nữa. Như vậy, theo nguyên đơn yêu cầu thì bị đơn còn thiếu nguyên đơn tổng cộng nợ gốc và lãi trong hạn, lãi quá hạn tính đến ngày 28/7/2023 là 457.691.605 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 355.473.475 đồng, nợ lãi trong hạn là 2.033.044 đồng, nợ lãi quá hạn là 100.185.086 đồng. Ngoài ra, bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn lãi suất phát sinh trên nợ gốc còn nợ tính từ ngày 29/7/2023 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả khoản tiền trên làm một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Đến hạn thanh toán, nếu bị đơn không thanh toán đầy đủ số nợ trên thì nguyên đơn yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành toàn bộ khoản nợ trên để thu hồi nợ; nguyên đơn không yêu cầu giải quyết xử lý tài sản bảo đảm là chiếc xe ô tô nhãn hiệu ISUZU có biển số 50H-025.88 theo hợp đồng thế chấp tài sản số 3653264.20 ngày 09/10/2020 và phụ lục 1.
Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 483/2023/QĐ-CCTLCC ngày 06/4/2023 cho ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L, yêu cầu bị đơn cung cấp bản sao toàn bộ tài liệu, chứng cứ về việc ký kết, thực hiện hợp đồng tín dụng, các khoản vay đã thanh toán, các khoản còn nợ, hợp đồng thế chấp tài sản, việc xử lý tài sản thế chấp và những tài liệu, chứng cứ khác có liên quan đến tranh chấp giữa bị đơn với nguyên đơn trong vụ án nhưng ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L không có ý kiến phản hồi cũng như không giao nộp tài liệu, chứng cứ nào khác.
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, xét thời điểm giao kết và thực hiện hợp đồng, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoàn 2 Điều 3 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa luật này và các luật khác có liên quan về thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng thì áp dụng theo quy định của Luật này”, theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do vậy, đối với hợp đồng vay mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng vay được thực hiện theo thỏa thuận.
Hội đồng xét xử xét thấy lãi suất của hợp đồng tín dụng số 9845741.20 ngày 09/10/2020 mà các bên đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật. Do ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L vi phạm nghĩa vụ trả nợ quy định trong hợp đồng gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên Ngân hàng Thương mại cổ phần Q khởi kiện, yêu cầu thu hồi nợ là có cơ sở pháp luật.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q, cần buộc ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q tổng cộng nợ gốc và lãi trong hạn, lãi quá hạn tính đến ngày 28/7/2023 là 457.691.605 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 355.473.475 đồng, nợ lãi trong hạn là 2.033.044 đồng, nợ lãi quá hạn là 100.185.086 đồng; kể từ ngày 29/7/2023, ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L vẫn phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên nợ gốc còn nợ cho đến ngày bị đơn thanh toán hết nợ vay theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 9845741.20 ngày 09/10/2020 và khế ước nhận nợ mà các bên đã ký kết; thanh toán một lần ngay sau khi có bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Đến hạn thanh toán, bị đơn chưa trả hết nợ cho nguyên đơn thì nguyên đơn được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành toàn bộ khoản nợ trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
Đối với tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp tài sản số 3653264.20 ngày 09/10/2020 và phụ lục 1 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Q với ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L là chiếc xe ô tô nhãn hiệu ISUZU, màu trắng, số khung RLE1KR77HLV101915, số máy 121N84, biển số 50H-025.88, số loại QKR77HE4/TN-TKS-4995U2-18 để bảo đảm cho khoản nợ vay của bị đơn đối với nguyên đơn. Do Ngân hàng Thương mại cổ phần Q không yêu cầu giải quyết xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, khoản 2 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình…” nên Hội đồng xét xử không xét. Sau này, nếu các đương sự có yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm thì được quyền khởi kiện thành vụ án khác.
Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật phí, lệ phí năm 2015, yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q được chấp nhận nên ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với khoản nợ mà ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L phải trả cho nguyên đơn. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 150 Điều 177, Điều 203, Điều 217, Điều 218, Điều 219, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 292, Điều 317, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Luật phí, lệ phí và Điều 48 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
- Buộc ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 28/7/2023 theo hợp đồng tín dụng số 9845741.20 ngày 09/10/2020 là 457.691.605 (Bốn trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm chín mươi mốt nghìn sáu trăm linh năm) đồng, trong đó nợ gốc là 355.473.475 (Ba trăm năm mươi lăm triệu bốn trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm bảy mươi lăm) đồng, nợ lãi trong hạn là 2.033.044 (Hai triệu không trăm ba mươi ba nghìn không trăm bốn mươi bốn) đồng, nợ lãi quá hạn là 100.185.086 (Một trăm triệu một trăm tám mươi lăm nghìn không trăm tám mươi sáu) đồng.
Kể từ ngày 29/7/2023, ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L vẫn phải tiếp tục trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q tiền lãi phát sinh trên nợ gốc còn nợ cho đến ngày ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L trả hết nợ vay theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 9845741.20 ngày 09/10/2020 và khế ước nhận nợ các bên đã ký.
Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Đến hạn thanh toán trên mà ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L chưa thanh toán hết nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành toàn bộ số tiền còn nợ để thu hồi nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
2- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 22.307.664 (Hai mươi hai triệu ba trăm linh bảy nghìn sáu trăm sáu mươi bốn) đồng đối với khoản nợ mà ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L phải trả là 457.691.605 (Bốn trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm chín mươi mốt nghìn sáu trăm linh năm) đồng.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Q được nhận lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 9.417.554 (Chín triệu bốn trăm mười bảy nghìn năm trăm năm mươi bốn) đồng theo biên lai thu số AA/2022/0012244 ngày 06 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
3- Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Lê Bảo Sơn Đ và bà Phạm Thị Kim L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát ND quận Gò Vấp; - Thi hành án DS quận Gò Vấp; - Các đương sự; - Lưu: VP, HS (Hoa). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Tám |