vanban.org

Bản án 270/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 15/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: bị cáo Trần Thanh T 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt: ngày 03/8/2022. Về xử lý vật chứng: căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 270/2022/HS-ST
Ngày 15/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Kền và ông Lê Như Toản.

- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Phương Thanh, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: ông Lê Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 234/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 260/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thanh T, sinh ngày 14 tháng 5 năm 1994, tại H, Quảng Ninh; nơi đăng ký thường trú: tổ 62, khu 5, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ 4, khu 2, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Trần Văn T và bà Hoàng Thị H; chồng: Bùi Thanh L (đã ly hôn); có 02 con: lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2022, tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

- Người chứng kiến: anh Trần Anh T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 40 phút ngày 02/8/2022, tại khu vực đối diện cửa Bar Valley Beach Club thuộc khu 5A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Công an phường B phát hiện, bắt quả tang Trần Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ tại tay trái của T 01 túi nilon bên trong có 05 viên nén màu hồng (Kí hiệu M) và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone.

Tại Bản kết luận giám định số 1276/KL-KTHS ngày 08/8/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: mẫu vật Kí hiệu M thu giữ của Trần Thanh T gửi giám định là ma túy, loại: MDMA, khối lượng: 2,222g (hai phẩy hai hai hai gam).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Trần Thanh T khai nhận: khoảng 20 giờ 30 phút ngày 02/8/2022, khi T đang làm việc tại Bar Valley Beach Club thì nhận được điện thoại của một người phụ nữ không quen biết tự giới thiệu tên là H hỏi mua 05 viên ma túy, loại “Thuốc lắc”, T đồng ý và hẹn đến Bar Valley Beach Club. Ngay sau đó, T gọi điện đối tượng tên B (không rõ lý lịch), hỏi mua 05 viên ma túy, loại “Thuốc lắc” , B đồng ý và thỏa thuận 700.000 đ/viên, đồng thời hẹn đến cửa Bar Valley Beach Club để giao dịch. Xong, T đến nơi hẹn gặp người phụ nữ tự giới thiệu là vợ của B và được người này đưa cho 01 túi nilon bên trong có 05 viên ma túy, loại “Thuốc lắc”, T hứa sẽ trả tiền sau. Sau đó, T cầm túi ma túy đi đến khu vực đối diện cửa Bar Valley Beach Club để bán cho H thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ.

Tại bản cáo trạng số: 269/CT-VKSHL ngày 24 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố Trần Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Trần Thanh T từ 36 đến 42 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ: ngày 03/8/2022.

- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

.+ Tịch thu, tiêu hủy: 1,85g ma túy, loại: MDMA, mẫu vật hoàn lại sau giám định;

+ Tịch thu, sung Ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, gắn 01 sim.

- Bị cáo không tranh luận.

- Lời nói sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy như nội dung vụ án nêu trên. Tại phiên tòa bị cáo khẳng định lời khai trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện, thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Xét lờ i khai của bi ̣ cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luâ ̣n giám đi ̣nh; phù hợp với lờ i khai của người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 22 giờ 40 phút ngày 02/8/2022, tại khu vực đối diện Bar Valley Beach Club thuộc khu 5A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Trần Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép 2,222 gam (Hai phẩy hai hai hai gam) ma túy, loại MDMA với mục đích để bán thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Công an Phường B phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến chế độ của Nhà nước về quản lý các chất ma túy.

Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Trần Thanh T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Điều 251 Bộ luật hình sự quy đi ̣nh:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Hành vi của bị cáo Trần Thanh T là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma túy là một loại độc dược, không chỉ hủy hoại sức khỏe của con người mà nó còn làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, làm mất trật tự an toàn xã hội, làm suy đồi đạo đức. Do đó, Nhà nước đã độc quyền và thống nhất quản lý các chất ma túy, với những quy định rất nghiêm ngặt, mọi hành vi trái phép liên quan đến ma túy đều bị pháp luật xử lý. Nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì vụ lợi, bị cáo vẫn thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo đã thể hiện sự coi thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, vì vậy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội để cải tạo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hinh pha ̣t bổ sung: ta ̣i khoản 5 Điều 251 của Bô ̣ luâ ̣t hinh sự quy

̀

̀ định ngườ i pha ̣m tô ̣i còn có thể bi ̣ áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, nên không áp dụng.

Về xử lý vâ ̣t chứ ng:

- 1,85g (một phảy tám mươi lăm gam) ma túy, loại: MDMA, mẫu vật hoàn lại sau giám định, trong phong bì niêm phong số 1276/KLGĐ ngày 08/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, là vật nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, gắn sim số 0936211444, bị cáo sử dụng liên lạc để mua bán ma túy, cần tịch thu, sung ngân sách nhà nước.

Về lờ i luâ ̣n tô ̣i của đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sát: xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được cơ quan điều tra thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định; tại phiên tòa bị cáo cũng đã thừa nhận thực hiện hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Nên lời buộc tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, tinh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đồ

́i vớ i bi ̣ cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nghia vu ̣ chi ̣u án phi hinh sự sơ thẩm: bi ̣ cáo phải chi ̣u tiền án phi

̃

́ ̀

́ hinh sự sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luật ̀

Về quyền kháng cáo: bi ̣ cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Liên quan trong vụ án:

- Bị cáo khai ngày 02/8/2022, bị cáo đã sử dụng điện thoại di động của bị cáo có số thuê bao 0936211444 gọi đến số của người đàn ông tên B, có số thuê bao 0985582320 để mua ma túy. Quá trình điều tra đã xác định: kết quả xác minh tại tổng công ty viễn thông Viettel thể hiện thông tin chủ thuê bao số điện thoại 0985582320 là anh Nguyễn Như Phương Đ, địa chỉ: Phường Đ, thành phố H. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tra cứu trên hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và rà soát 10 khu dân cư với 36 tổ dân nhưng không có công dân nào có thông tin phù hợp với người có tên Nguyễn Như Phương Đ. Như vậy, ngoài lời khai của bị cáo thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh, nên không đủ cơ sở xác định lý lịch của người đàn ông tên B có hành vi mua bán trái phép với bị cáo. Ngoài ra bị cáo khai có người phụ nữ tên Hoa hỏi mua ma túy và người phụ nữ tự giới thiệu là vợ B đã đưa ma túy cho bị cáo. Quá trình điều tra không xác định được lý lịch của những người này nên không đủ cơ sở xử lý về hình sự.

- Về lời khai của bị cáo khai ngoài lần mua ma túy nêu trên, bị cáo còn 02 lần mua ma túy của anh B để sử dụng cho bản thân. Cụ thể: lần 1: tháng 12 năm 2021, bị cáo mua của B 01 viên thuốc lắc giá 500.000đ/01 viên và lần 2: vào tháng 01 năm 2022, bị cáo mua của B 02 viên thuốc lắc, giá 500.000/01 viên. Tuy nhiên ngoài lời khai của bị cáo thì không có chứng cứ nào khác chứng minh, nên không đủ cơ sở xử lý về hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt: bị cáo Trần Thanh T 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt: ngày 03/8/2022.

2.Về xử lý vật chứng: căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy: 1,85g (một phảy tám mươi lăm gam) ma túy, loại: MDMA, mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 1276/KLGĐ ngày 08/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.

- Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, kèm 01 sim.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 79/BB-THA ngày 12/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí, buộc bị cáo Trần Thanh T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự̀

, bi ̣ cáo có quyền kháng cáo bản án trong thờ i ha ̣n 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ