vanban.org

Bản án 27 — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng c c Điều 164, 166, 175 Bộ luật dân sự; Điều 166, 203 Luật Đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 th ng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng n phí và lệ phí Tòa n;

Không chấp nhận yêu cầu phản t của bị đơn ông Tạ Văn V yêu cầu công nhận quyền sử dụng 74,2 m2 đất thuộc thửa s 166, tờ bản đồ địa chính s 37 xã H, huyện Đ, tỉnh Th i Nguyên. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận quyền sử dụng 69m2 đất thuộc thửa s 166, tờ bản đồ địa chính s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "DSPT Nguyễn Văn M - Tạ Văn V"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng c c Điều 164, 166, 175 Bộ luật dân sự; Điều 166, 203 Luật Đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 th ng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng n phí và lệ phí Tòa n;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 164 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Luật Đất đai

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản n s : 27/2024/DS-PT
Ngày: 12/3/2024
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu

Các thẩm phán: Ông Lê Quý My và bà Trần Thị Nhài

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thuý Linh, Thư ký Tòa n nhân dân tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Lê Thị Hương Giang, Kiểm s t viên.

Trong c c ngày 08/3/2024 và ngày 12/3/2024, tại Hội trường xét xử Tòa n nhân dân tỉnh Th i Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ n dân sự thụ lý s 70/2023/DS-PT ngày 05/10/2023 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do bản n dân sự sơ thẩm s 07/2023/DS-ST ngày 07/7/2023 của Tòa n nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Th i Nguyên có kh ng c o.

Theo quyết định đưa vụ n ra xét xử s 92/2023/QĐ-PT ngày 22/11/2023; giữa c c đương sự:

Nguyên đơn:

1. Ông Nguyễn Văn M; sinh năm 1942

2. Bà Nguyễn Thị H; sinh năm 1946

Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1985; cùng địa chỉ: Xóm P, xã H, huyện Đ, tỉnh Th i Nguyên; đều có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Lê Khắc H1, Văn phòng L, Đoàn luật sư thành ph H; có mặt

Bị đơn: Ông Tạ Văn V, sinh năm 1962; địa chỉ: Xóm P, xã H, huyện Đ,

tỉnh Th i Nguyên; có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Lê Quang N, Văn phòng L1 – Đoàn luật sư tỉnh T; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Tạ Văn Đ, sinh năm 1978; ủy quyền cho ông Tạ Văn V; sinh năm

1962; có mặt

2. Ông Tạ Văn H2, sinh năm 1971; có mặt.

3. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; (vợ ông V); vắng mặt.

4. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1983 (vợ ông Đ); có mặt

Cùng địa chỉ: Xóm P, xã H, huyện Đ, tỉnh Th i Nguyên.

Người làm chứng:

1. Ông Mai Ngọc X, sinh năm 1935

2. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972

3. Ông Đinh Ngọc N1, sinh năm 1963

Cùng địa chỉ: Xóm P, xã H, huyện Đ, tỉnh Th i Nguyên; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn M trình bày:

Năm 1975 ông M, bà H mua khu đất hiện nay đang sử dụng của ông Tạ Văn T2 là b đẻ ông Tạ Văn V với gi là 120 đồng, năm 1978 ông bà mua thêm của ông ngoại ông V một phần đất tiếp gi p với gi 320 đồng. Năm 1990 bà Nghiêm Thị T3 đòi đất và cho con trai là Tạ Văn V, Tạ Văn Đ sang nhà ông bà chặt ph cây c i trên đất ông bà đã mua và xảy ra tranh chấp.

Qu trình giải quyết tranh chấp, ngày 31/5/1990, Phòng nông nghiệp huyện Đ có Thông b o s 05, UBND huyện Đ Thông b o s 363 ngày 02/7/1990, Thông b o s 399 ngày 31/7/1991 và phiếu thu ngày 10/8/1991 về việc nộp tiền làm thủ tục hợp thức đất. Năm 1994 UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 400 m2 đất ở, phần diện tích đất canh tác được hợp thức hoá tại thửa 42, tờ s 7 bản đồ 299 gia đình bà vẫn sử dụng, nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn M cho rằng diện tích đất tranh chấp với ông Tạ Văn V là 74,2m2 thuộc thửa s 166 tờ bản đồ địa chính s 37 xã H do ông bà mua của ông ngoại ông V vào năm 1978 với gi 420 đồng, đã được UBND huyện Đ cho hợp thức ho năm 1990, ông bà đã sử dụng liên tục từ đó đến năm 2016 ông Tạ Văn V đổ đất vào diện tích đất này của nhà ông bà. Ông M, bà H yêu cầu Tòa n công nhận diện tích 74,2m2 đất tại thửa s 166 tờ bản đồ địa chính s 37 xã H thuộc quyền sử dụng hợp ph p của ông bà, buộc ông Tạ Văn V phải trả lại diện tích đất này cho ông bà và khôi phục hiện trạng ban đầu.

Bị đơn ông Tạ Văn V, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Tạ Văn Đ, ông Tạ Văn H2, bà Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị T trình bày: Năm 1975, ông M, bà H từ tỉnh Hà Nam lên ph H, xã H, huyện Đ không có đất ở, đã được b mẹ các ông là Tạ Văn T2, Nghiêm Thị T3 cho mượn khu đất hiện nay đang ở. Khu đất này gia đình ông khai ph trước năm 1975, có trồng tre, đào h vôi. Việc cho ông M bà H mượn đất có ông Mai Ngọc X chứng kiến, bụi tre đã được UBND xã và ban xây dựng đường điện bồi thường 1.000.000đ ngày 21/6/2000, h vôi có b n gia đình đã mượn để tôi vôi.

Diện tích 74,2 m2 đất thuộc thửa đất s 166 tờ bản đồ địa chính s 37 xã H đo vẽ năm 2013 đang có tranh chấp giữa gia đình ông với ông M, bà H có nguồn g c của b mẹ ông, trước kia thuộc thửa s 42 tờ s 7 bản đồ 299 xã H. Sau đó b mẹ ông cho ông H2 sử dụng, ông H2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/04/1994. Năm 1997, ông H2 làm thủ tục tặng cho ông Tạ Văn Đ trong đó có thửa đất s 42 nêu trên. Năm 2000 ông Đ tặng cho vợ chồng ông V, bà T sử dụng, nhưng chưa làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Gia đình ông, từ ông bà, b mẹ đến các anh em của ông chưa bao giờ mua bán, chuyển nhượng, tặng cho hay cho mượn và chuyển quyền sử dụng diện tích đất này cho gia đình ông M, bà H. Ông Tạ Văn V có đơn yêu cầu phản t cho rằng diện tích 74,2 m2 đất thuộc thửa s 166 tờ bản đồ địa chính s 37 xã H có nguồn g c của b mẹ ông, thuộc thửa 42, tờ s 7 bản đồ 299 đã được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ, nên yêu cầu Tòa n không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn, đề nghị công nhận quyền sử dụng đất 74,2 m2 thuộc thửa đất s 166 tờ bản đồ địa chính s 37 xã H thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Tạ Văn V. Các ông, bà Tạ Văn Đ, Tạ Văn H2, Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị T đều nhất trí với ý kiến trình bày và đề nghị của ông Tạ Văn V.

Những người làm chứng trình bày:

Ông Mai Ngọc X, bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Ông được biết nguồn g c thửa đất đang tranh chấp giữa nhà ông Nguyễn Văn M với nhà ông Tạ Văn V là của ông D1 là b vợ ông Tạ Văn T2, b đẻ bà Nghiêm Thị T3 (ông T2, bà T3 là b mẹ đẻ của ông Tạ Văn V) khai hoang, sinh s ng ở đó từ thời kháng chiến ch ng Ph p. Sau đó vợ chồng ông M, bà H từ dưới xuôi lên xã H có ở nhờ nhà ông T2, bà T3. Còn việc mua b n đất giữa hai bên như thế nào thì ông không biết.

Ủy ban nhân dân xã H cung cấp: Theo hồ sơ lưu trữ tại UBND xã, gia đình ông M bà H được cấp 400m2 đất theo giấy chứng nhận QSD đất s C345809 ngày cấp 05/4/1994. Năm 2007 UBND xã H tiến hành đo đạc hiện trạng sử dụng đất của gia đình ông M thực tế sử dụng là 587,5m2, trong đó đã cấp cho bà H ông M là 400m2 đất ở, còn 187,5m2 đất chưa được cấp. Năm 2007 UBND huyện Đ thu hồi 47,5m2 đất các bên tranh chấp không nằm trong s diện tích 587,5 m2 ông M bà H sử dụng. Theo bản đồ địa chính năm 2013, diện tích 587,5 m2 ông M bà H sử dụng là thửa 166, tờ bản đồ s 37, diện tích 607m2.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ x c định diện tích đất tranh chấp giữa ông M, bà H với ông V có diện tích 74,2 m2, không có tài sản gì trên đất. Năm 2016 ông V đổ đất vào diện tích này dẫn đến tranh chấp.

Tại bản án dân sự sơ thẩm s 07/2023/DS-ST ngày 07/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Th i Nguyên đã quyết định:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất của ông bà đ i với diện tích 74,2m2 đất tại thửa s 166 tờ bản đồ địa chính s 37 xã H đang tranh chấp giữa hai hộ; buộc ông Tạ Văn V phải trả lại diện tích đất này cho gia đình ông bà và khôi phục hiện trạng ban đầu.

2. Chấp nhận yêu cầu phản t của ông Tạ Văn V. Công nhận quyền sử dụng diện tích 74,2 m2 đất thuộc thửa đất s 166 tờ bản đồ địa chính s 37 xã H (trước khi lập bản đồ địa chính năm 2013 thuộc thửa đất s 42 tờ bản đồ s 7 bản đồ 299 xã H) đang tranh chấp với nhà ông M, bà H thuộc quyền sử dụng của ông Tạ Văn V. (Ranh giới diện tích 74,2 m2 đất thuộc thửa đất s 166 tờ bản đồ địa chính s 37 xã H theo bản Trích đo hiện trạng sử dụng đất kèm theo bản án).

Ngoài ra n sơ thẩm còn tuyên về n phí, chi phí t tụng và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 13/7/2023, nguyên đơn ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo toàn bộ bản n sơ thẩm, đề nghị Toà n nhân dân tỉnh Th i Nguyên huỷ toàn bộ bản n sơ thẩm. Lý do kháng cáo: Nguyên đơn cho rằng: Phần diện tích đất tranh chấp 74,2 m2 thuộc thửa 166, tờ bản đồ địa chính s 37 xã H, không thuộc thửa 165 của gia đình ông V. Về tài sản trên đất, gia đình nguyên đơn có ngâm 02 m3 gỗ bạch đàn, nhưng do bị đơn đổ đất lên. Nguồn g c phần đất tranh chấp đã được Phòng Nông nghiệp huyện Đ thông báo về kết luận giải quyết tranh chấp, được UBND huyện Đ thông báo cho nộp tiền hợp thức hoá quyền sử dụng đất gồm 400 m2 đất ở và đất canh tác.

Tại phiên toà phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên nội dung đơn kh ng c o, bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn x c định không kháng cáo, nhất trí nội dung quyết định của bản n sơ thẩm. C c đương sự giữ nguyên nội dung, quan điểm trình bày tại cấp sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tranh luận cho rằng: Về thủ tục t tụng, Toà án cấp sơ thẩm ghi bản án s 07, ngày 07/7/2022 là vi phạm nghiêm trọng thủ tục t tụng. Về nội dung: Diện tích đất tranh chấp có nguồn g c đã được Phòng Nông nghiệp huyện Đ thông báo giải quyết tranh chấp, được UBND huyện Đ nhất trí cho nộp tiền hợp thức hoá từ năm 1990. Theo bản đồ địa chính x c định là thửa 166 thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử huỷ n sơ thẩm để giải quyết lại.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn tranh luận cho rằng:

Nguồn g c thửa đất s 42 tờ bản đồ s 7 bản đồ 299 xã H là của b mẹ đẻ ông V. B mẹ ông V cho ông Tạ Văn H2 sử dụng, năm 1997 ông H2 cho ông Tạ Văn Đ sử dụng và ông Đ đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2000, ông Đ chuyển cho ông V sử dụng. Ông M, bà H cho rằng nguồn g c đất là do mua bán từ cụ D1 và ông T2 nhưng không có giấy tờ mua b n. Thời điểm từ năm 1989 trở về trước pháp luật không thừa nhận việc mua b n đất, chỉ thừa nhận mua bán nhà và tài sản trên đất. Phần đất tranh chấp nguyên đơn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên nguyên đơn không có quyền khởi kiện. Khi cơ quan có thẩm quyền đo đạc bản đồ địa chính, tại bản trích đo thửa đất, ông V không được biết mà chỉ được ký vào biên bản trong khi đó ông V chỉ là người sử dụng đất còn người được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ông Đ.

Thông b o s 05 chỉ là ý kiến của phòng ban, còn c c văn bản như thông b o 399, 363, phiếu thu tiền chỉ là thủ tục xin cấp đất, nên không có gi trị. Theo c c tài liệu trong hồ sơ, không có quyết định hợp thức đất của Ủy ban nhân dân huyện Đ. S tiền tại phiếu thu là s tiền nộp để hợp thức 400m2 đất ở đã được cấp không phải là phần đất mà nguyên đơn đang tranh chấp. Đề nghị Hội đồng xét xử b c đơn kh ng c o của nguyên đơn, giữ nguyên bản n sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Th i Nguyên ph t biểu quan điểm: Thẩm ph n chủ tọa, Hội đồng xét xử, c c đương sự chấp hành đúng c c quy định của Bộ luật t tụng dân sự. Về đường l i giải quyết vụ n, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kh ng c o của nguyên đơn, sửa bản n dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu phản t của bị đơn, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Tạ Văn V trả cho ông M bà H 74,2 m2 đất thuộc thửa 166, tờ bản đồ s 37 bản đồ địa chính xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên theo kết quả đo vẽ kèm theo bản n sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu c c tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ n đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm s t ph t biểu ý kiến, Hô i đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị H kháng cáo trong hạn luật định được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung kh ng c o của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy:

Về nguồn gốc, quá trình sử dụng diện tích đất tranh chấp:

Nội dung Thông b o s 05/TN-MT ngày 31/5/1990 của Phòng Nông nghiệp huyện Đ về việc giải quyết tranh chấp đất đai căn cứ vào biên bản giải quyết tranh chấp đất đai giữa gia đình ông Tạ Văn T2 (b các ông V, H2, Đ) với gia đình ông Nguyễn Văn M ngày 10/5/1990, kết luận như sau:

2... Ông Nguyễn Văn M tự ý chuyển mục đích sử dụng đất phần diện tích của thửa số 42 thuộc tờ số 7 từ ruộng một lúa sang mục đích khác là vi phạm pháp luật đất đai.

3... Ông Nguyễn Văn M hiện nay thực sự chưa có đất ở thì UBND xã đề nghị UBND huyện ra quyết định hợp thức khu đất mà hiện nay ông M đang ở để ông M có giấy tờ sử dụng đất hợp pháp theo theo luật đất đai quy định.

4... Khi ông Nguyễn Văn M có quyết định giao đất thì ông M chỉ được sử dụng 400 m2 làm đất thổ cư, ngoài diện tích đó ông M phải nộp thuế nông nghiệp theo pháp lệnh thuế nông nghiệp.

Riêng phần diện tích của thửa số 42 sử dụng sai mục đích ông Nguyễn Văn M phải chịu nộp phạt theo điều 53 luật đất đai...Ông M phải nộp thuế nông nghiệp phần diện tích của thửa 42 từ năm 1983 đến nay cho ban thuế xã. UBND xã và ban thuế xã H thanh toán lại cho ông Tạ Văn T2 vì hàng năm ông T2 đã đóng thuế toàn bộ diện tích của thửa 42 thuộc tờ số 7 từ năm 1983 đến nay.

5. UBND xã H có trách nhiệm kiểm tra đo đạc diện tích cụ thể khu đất hiện nay ông M đang ở và phần diện tích của thửa 42 và đôn đốc kiểm tra việc thực hiện kết luận theo quy định. (bút lục s 06)

Ngày 02/7/1990, UBND huyện Đ có Thông báo 363/TB-UB yêu cầu ông Nguyễn Văn M làm đầy đủ thủ tục xin cấp đất theo quy định (bút lục s 04). Ngày 10/8/1991, ông Nguyễn Văn M nộp s tiền 250.000 đồng, nội dung phiếu thu làm thủ tục hợp thức đất ở (bút lục s 05).

Như vậy, diện tích đất gia đình ông M sử dụng bao gồm 400 m2 đất ở và một phần diện tích thửa đất s 42, tờ s 7 bản đồ 299 trước thời điểm giải quyết tranh chấp ngày 31/5/1990. Phần diện tích đất thuộc thửa s 42 ông M sử dụng đã phải nộp phạt cho Nhà nước và nộp thuế nông nghiệp để trả cho ông T2 là b ông V. Thông báo s 05 ngày 31/5/1990 dựa trên kết luận về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông T2 là b của các ông V, H2, Đ với gia đình ông M đã được UBND huyện Đ thông báo cho làm thủ tục hợp pháp hoá và nộp tiền theo phiếu thu của UBND huyện Đ.

Toà án cấp sơ thẩm và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cho rằng chưa có tài liệu thể hiện việc nhất trí cho hợp pháp hoá quyền sử dụng đất của UBND huyện Đ cho gia đình ông M là không có căn cứ.

Tại Biên bản hoà giải tranh chấp đất đai của UBND xã H ngày 31/8/2016, đại diện UBND xã H có ý kiến: Căn cứ vào Thông báo s 05 ngày 31/5/1990, một phần diện tích của thửa 42, tờ s 7 bản đồ 299 nay là ao, hiện tại do ông M đang sử dụng. Ông M được sử dụng và nộp một khoản tiền thuế đất nông nghiệp từ năm 1983 đến năm 1990 để thanh toán cho ông T2. Căn cứ vào quá trình sử dụng đất của ông M từ năm 1990 đến nay, gia đinh ông V, ông Đ không có ý kiến đề nghị nào về việc giải quyết ao của ông M đang sử dụng. Đồng thời trên thực tế gia đình ông V không sử dụng tại vị trí đất trên. Căn cứ vào kết quả đo đạc năm 2013 gia đình ông V đã ký tên công nhận ranh giới và diện tích của mình, không có ao của M trong đó được thể hiện tại thửa 165, tờ bản đồ s 37 (bút lục s 02, 03).

Về quá trình giải quyết tranh chấp đất đai giữa gia đình ông Nguyễn Văn M với gia đình bà Nghiêm Thị T3 (mẹ các ông H2, V, Đ):

Tại Biên bản xác minh diện tích đất tranh chấp ngày 27/10/2005 giữa ông Nguyễn Văn M với bà Nghiêm Thị T3 x c định diện tích đất tranh chấp là 47,5 m2 không nằm trong thửa s 42 (bút lục s 99).

Tại Thông b o về việc giải quyết tranh chấp đất đai ngày 17/8/2007 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ, có nội dung:

Về hiện trạng, diện tích, vị trí, ranh giới thửa đất tranh chấp là 01 hố do gia đình bà T3 đào để tôi vôi có diện tích 47,5 m2.

Theo biên bản đo đất của UBND xã H ngày 13/3/2007, diện tích đất ở và đất nông nghiệp theo hiện trạng sử dụng thực tế của hộ gia đình ông M đang sử dụng là 587,25 m2. Diện tích đang tranh chấp 47,5 m2 nằm ngoài diện tích đất 587,25 m2 hộ ông M đang sử dụng. Phòng T thiết lập thủ tục hồ sơ trình UBND huyện ra quyết định thu hồi (bút lục 125, 126).

Ngày 17/9/2007, UBND huyện Đ ban hành quyết định s 2331/QĐ-UBND thu hồi diện tích 47,5 m2 đất tranh chấp giữa hộ gia đình ông Nguyễn Văn M với bà Nghiêm Thị T3 giao cho UBND xã H quản lý (bút lục s 100).

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy:

Phần diện tích đất ở và đất nông nghiệp hiện tại gia đình ông M sử dụng đã được UBND huyện Đ hợp thức ho cho gia đình ông Nguyễn Văn M sử dụng từ năm 1990, đến năm 2013 thiết lập bản đồ địa chính x c định là thửa 166, tờ bản đồ địa chính s 37 xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Qu trình sử dụng đất, c c bên không tranh chấp diện tích 74,2 m2 đất, theo bản đồ địa chính thuộc thửa 166 mà tranh chấp tại vị trí 47,5 m2 đã bị UBND huyện Đ quyết định thu hồi năm 2007. Đến năm 2016 gia đình ông V đổ đất vào 74,2 m2 đất thuộc thửa 166 gia đình ông M đang sử dụng các bên mới phát sinh tranh chấp phần diện tích đất này.

Ông V và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cho rằng, diện tích 74,2 m2 theo bản đồ địa chính thuộc thửa 166 là một phần thửa 42 tờ s 7 bản đồ 299, diện tích 270 m2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ là không có căn cứ, vì: Thửa 42, tờ s 7 bản đồ 299 theo kết quả x c minh với UBND xã H không thể đ i chiếu được với thửa nào theo bản đồ địa chính hiện nay. Ông V cho rằng thửa s 42 theo bản đồ 299 nay là thửa 165 tiếp gi p thửa 166, thì theo bản đồ địa chính, thửa 165 gia đình ông V sử dụng có diện tích 385,7 m2, trong khi thửa 42, bản đồ 299 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đ chỉ là 270 m2. Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cho rằng diện tích 74,2 m2 thuộc thửa 42, theo bản đồ địa chính là thửa 165 là không có căn cứ.

Toà án cấp sơ thẩm nhận định, phần diện tích đất tranh chấp 74,2 m2 là phần càng cua nhô ra của thửa 42, nhưng không xem xét đến c c văn bản của Phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện Đ, UBND huyện Đ về việc hợp thức hoá cho gia đình ông M được sử dụng 400 m2 đất ở và một phần diện tích thửa đất s 42, tờ s 7 bản đồ 299 là không chính xác. Từ đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại diện tích 74,2 m2 đất, chấp nhận yêu cầu phản t của bị đơn, công nhận cho bị đơn được sử dụng diện tích 74,2 m2 đất là không có căn cứ.

Căn cứ kết quả đo đạc hiện trạng phần đất tranh chấp đ i chiếu với bản đồ địa chính, x c định diện tích 74,2 m2 các bên tranh chấp thuộc thửa 166, tờ bản đồ s 37 xã H, huyện Đ, trong đó có một phần diện tích 5,2m2 gia đình anh Tạ Văn N2 sử dụng, phần diện tích còn lại 69m2 cần công nhận cho ông M bà H sử dụng theo hiện trạng thực tế.

Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, sửa bản án dân sự sơ thẩm s 07/2023/DS-ST ngày 07/7/2023 của Tòa n nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Th i Nguyên. Không chấp nhận yêu cầu phản t của bị đơn yêu cầu công nhận quyền sử dụng 74,2 m2 đất thuộc thửa s 166, tờ bản đồ địa chính s 37. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận quyền sử dụng 69 m2 đất thuộc thửa s 166, tờ bản đồ địa chính s 37 xã H thuộc quyền sử dụng hợp ph p của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị H.

Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Tạ Văn V phải chịu n phí dân sự sơ thẩm có gi ngạch tính trên gi trị 69 m2 đất; ông M, bà H không phải chịu n phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả ông M bà H tiền tạm ứng n phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Án phí dân sự phúc thẩm: ông M bà H không phải chịu n phí dân sự phúc thẩm.

Về chi phí t tụng: Ông M bà H đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định, đo đạc, định gi tài sản ở giai đoạn xét xử sơ thẩm lần 1 và lần 2 là 11.000.000 đồng, cần buộc ông Tạ Văn V hoàn trả cho ông M, bà H.

Từ những phân tích nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật t tụng dân sự; chấp nhận một phần kh ng c o của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị H; sửa bản n dân sự sơ thẩm s 07/2023/DS-ST ngày 07/7/2023 của Tòa n nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Th i Nguyên.

Áp dụng c c Điều 164, 166, 175 Bộ luật dân sự; Điều 166, 203 Luật Đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 th ng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng n phí và lệ phí Tòa n;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu phản t của bị đơn ông Tạ Văn V yêu cầu công nhận quyền sử dụng 74,2 m2 đất thuộc thửa s 166, tờ bản đồ địa chính s 37 xã H, huyện Đ, tỉnh Th i Nguyên.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận quyền sử dụng 69m2 đất thuộc thửa s 166, tờ bản đồ địa chính s 37 xã H, huyện Đ, tỉnh Th i Nguyên thuộc quyền sử dụng hợp ph p của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị H (có sơ đồ chi tiết kèm theo là c c điểm: 1,2,3,4,5,A,7,1).

Ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị H có quyền liên hệ với Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Th i Nguyên để làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quyết định của bản n.

3. Về n phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Tạ Văn V phải chịu 300.000 đồng n phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng n phí theo biên lai s 0005466 ngày 08/11/2022 của Chi cục Thi hành n dân sự huyện Đồng Hỷ, tỉnh Th i Nguyên. Hoàn trả ông Nguyễn Văn M bà Nguyễn Thị H 250.000 đồng tạm ứng n phí theo biên lai s 0015545 ngày 24/11/2016 của Chi cục Thi hành n dân sự huyện Đồng Hỷ, tỉnh Th i Nguyên.

Án phí dân sự phúc thẩm: ông M bà H không phải chịu n phí dân sự phúc thẩm.

4. Về chi phí t tụng: Buộc ông Tạ Văn V hoàn trả cho ông Nguyễn Văn M bà Nguyễn Thị H s tiền chi phí t tụng là 11.000.000 (mười một triệu) đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành n dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành n theo quy định tại c c Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành n được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành n dân sự.

Bản n phúc thẩm có hiệu lực ph p luật kể từ ngày tuyên n./.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Cỡ chữ