vanban.org

Bản án 27

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 12 năm 2025. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Trần Ngọc H.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Tran Ngoc H - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 -

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

VĨNH LONG

NAM

TỈNH VĨNH LONG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: 27/2026/HS-ST Ngày: 24 - 4 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thanh Tuấn

Ông Ngô Thanh Lành

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Thùy là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2026/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2026 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:

Trần Ngọc H, sinh ngày 04/10/2001; tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: tổ C, khóm T, phường B, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: thợ xăm; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ) và bà Trần Thị Đ; vợ và con: không có; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: chưa từng bị kết án hay bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2025 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 17/12/2025, Trần Ngọc H điều khiển xe mô tô biển số 64HA-115.57 đến quán C tại khóm E, phường B, tỉnh Vĩnh Long gặp H1 (chưa xác định được nhân thân, lý lịch) đang ngồi uống nước một mình. H1 kêu H vào ngồi cùng và hỏi H “Có muốn chơi ma túy không?”; H trả lời là “Muốn”. H1 nói ở giữa cầu M có để ma tuý dưới lan can bảng lề thành cầu và để lại 1.540.000 đồng (Một triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng) rồi vào khu công nghiệp B đợi H1 xuống để sử dụng ma tuý chung. Sau đó, H đến địa điểm ngay giữa Cầu M lấy được 07 túi nylon màu trắng trong suốt được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi túi nylon có chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy) cất giấu vào trong quần lót đang mặc trên người, để lại 1.540.000 đồng (Một triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng) ngay chỗ lấy ma tuý và đi đến điểm hẹn với H1. Khi dừng xe đợi H1 tại tuyến đường P - Khu công nghiệp B thuộc tổ B, khóm M, phường C, tỉnh Vĩnh Long thì Hậu bị lực lượng Công an phường C đến kiểm tra bắt quả tang, thu giữ niêm phong 07 túi nylon màu trắng trong suốt được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi túi nylon có chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng (H khai nhận là ma túy đá); tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại wave, màu xanh

- đen, biển số 64HA-115.57, đã qua sử dụng; tiền Việt Nam: 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Qua điều tra, xác minh Trần Ngọc H khai nhận do muốn sử dụng trái phép chất ma tuý, H đã mua ma tuý của một đối tượng (không rõ nhân thân, lý lịch). Khi đang cất giữ ma tuý trong người thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Trần Ngọc H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên (BL: 05-06, 27, 43-44, 45-50, 51-52, 53, 54, 63-64, 65-71, 72-78).

Căn cứ bản kết luận giám định số 589/KL-KTHS-KV1 ngày 23/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: Mẫu tinh thể rắn bên trong 07 túi nylon trong phong bì gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,1974 gam, loại Methamphetamine (BL 35).

Ngày 24/12/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V ra quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can đối với Trần Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đối với người đàn ông tên H1 mà Trần Ngọc H khai là người chỉ chỗ cho H lấy ma tuý nhưng H không biết được họ tên và địa chỉ ở đâu Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. (BL 56)

Vật chứng thu giữ:

- 07 túi nylon màu trắng trong suốt được hàn kín hai đầu là ma tuý có khối lượng 2,1974 gam loại Methamphetamine.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại wave, màu xanh - đen, biển số 64HA-115.57, đã qua sử dụng; tiền Việt Nam: 1.250.000 đồng. Tất cả là tài sản của bị cáo.

Tại Cáo trạng số 55/CT-VKSBT ngày 24/3/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long truy tố Trần Ngọc H tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025).

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, năng lực trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy trước đây bị cáo có công việc là thợ xăm nhưng hiện nay bị cáo không có thu nhập ổn định, sau khi bị tạm giam hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 07 túi nylon được niêm phong trong phong bì số 589/KL-KTHS-KV1 ngày 23/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh V có chữ ký ghi họ tên Võ Mạnh T, bên giao có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Trần Thanh U có khối lượng ma tuý Methamphetamine còn lại sau giám định là 2,0642 gam. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận tàng trữ ma túy là để sử dụng, hành vi bị cáo thực hiện đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long đã nêu, bị cáo thống nhất với tội danh Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long đã truy tố và không trình bày gì thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về lo gia đình

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 17/12/2025, tại tuyến đường P - Khu công nghiệp B thuộc tổ B, khóm M, phường C, tỉnh Vĩnh Long lực lượng Công an phường C bắt quả tang bị cáo có hành vi tàng trữ 07 (bảy) túi nylon màu trắng trong suốt được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi túi nylon có chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng (bị cáo khai nhận là ma túy đá) đang cất giữ trong người. Theo kết luận giám định số 589/KL-KTHS-KV1 ngày 23/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: Mẫu tinh thể rắn bên trong 07 túi nylon trong phong bì gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,1974 gam loại Methamphetamine. (BL 35). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025).

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025) quy định cụ thể như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

…

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, A, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…”

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật như trong cáo trạng số 55/CT-VKSBT ngày 24/3/2026 cũng như lời luận tội của vị Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, bởi chất Methamphetamine là một trong những chất ma túy được Nhà nước ta độc quyền quản lý, cấm tàng trữ, người nào có hành vi tàng trữ trái phép sẽ bị pháp luật hình sự trừng trị nghiêm khắc. Bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức điều này nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu nghiện hút bị cáo bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, sự lên án của xã hội bị cáo mua ma túy về cất giấu để sử dụng. Tính chất và mức độ do hành vi do bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước ta đối với chất ma túy là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo bằng việc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ sức răn đe giáo dục đối với bị cáo và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống và ngăn ngừa đối với loại tội phạm này.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.

Xét bị cáo có thu nhập nhưng không ổn định, phải nuôi gia đình nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Xét 07 túi nylon được niêm phong trong phong bì số 589/KL-KTHS-KV1 ngày 23/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh V chứa 2,0642 gam ma túy (được hoàn lại sau giám định) là chất cấm nên cần tịch thu tiêu hủy.

Xét 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh - đen, biển số 64HA-115.57 (số máy JA 39E2752795, số khung RLHJA3929NY255861) đã qua sử dụng; tiền Việt Nam: 1.250.000 đồng là tài sản riêng không liên quan đến vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã trả lại xong cho bị cáo H (BL 42).

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025).

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 12 năm 2025.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Trần Ngọc H.

2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 07 (bảy) túi nylon được niêm phong trong phong bì số 589/KL-KTHS-KV1 ngày 23/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh V chứa 2,0642 (Hai phẩy không ngàn sáu trăm bốn mươi hai) gam ma túy được hoàn lại sau giám định.

(Vật chứng hiện do Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 tạm giữ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 42/KV3 ngày 13/4/2026).

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Trần Ngọc H nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ